Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay

LUẬN VĂN: 
Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch 
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay 

Mở đầu 

1. Tính cấp thiết của đề tài 
Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước tiến mạnh mẽ. Năm 2004 số lượng khách quốc tế đến nước ta đã đạt con số trên ba triệu lượt người, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cho sự phát triển văn hoá và mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Giữa văn hoá và du lịch từ lâu đã có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc là nguồn lực cho hoạt động du lịch. Và du lịch là một hình thức của hoạt động giao lưu văn hoá ngày càng được đẩy mạnh hiện nay. du lịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, đồng thời tạo lập mối quan hệ trong cuộc sống giữa quá khứ hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc. 
Với việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: " Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay " (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội), chúng tôi sẽ có điều kiện nhận diện rõ hơn các phương diện lý luận về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch, về thực tiễn vấn đề phát triển du lịch dựa trên nền tảng kế thừa và phát huy di sản và bản sắc văn hoá Thăng Long - Hà Nội - mảnh đất ngàn năm văn hiến. Đề tài sẽ góp phần đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa hoạt động văn hoá và du lịch (và ngược lại) ở Thủ đô và đề xuất những biện pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ này. Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách góp phần vào việc xây dựng và phát triển Hà Nội “thành phố vì hoà bình”, “Thủ đô anh hùng", xây dựng con người Hà Nội văn minh, thanh lịch, hiện đại, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 
Vấn đề phát triển văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay đã 
được một số nhà nghiên cứu văn hoá và du lịch đề cập. Đã có những cuộc hội thảo, 
những công trình chuyên ngành đề cập đến vai trò văn hoá đối với phát triển kinh tế- xã 
 hội nói chung, văn hoá đối với phát triển du lịch nói riêng trên phạm vi cả nước và ở Hà Nội. 
Về di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội, có thể kể tới các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: 
- “Thăng Long - Hà Nội” của Tiến sĩ   Lưu Minh Trị và Nhà nghiên cứu, Nhà báo Hoàng Tùng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995. 
-“Hà Nội nghìn xưa” của Giáo sư Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ 
Tuấn Sán, Nxb Hà Nội, 1998. 
- “ Văn hiến Thăng Long”của   Giáo sư Vũ Khiêu và nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc chủ biên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2000. 
- “ Văn hoá Thăng Long  - Hà Nội hội tụ và toả sáng” của Giáo sư Trần Văn 
Bính chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003. 
Các công trình nói trên đã hệ thống, khái quát hoá các giá trị văn hoá, các di sản văn hoá tiêu biểu của Thăng Long- Hà Nội- nguồn lực to lớn cho phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội. 
Về hoạt động du lịch ở Hà Nội có thể kể tới các công trình sau: 
- “Hà Nội trung tâm du lịch của Việt Nam”của Giáo sư Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Vinh Phúc, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996. 
- “Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội", Luận án 
Tiến sĩ của Bùi Thị Nga, Hà Nội,1996. 
- “du lịch Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long” của Nhà nghiên cứu   Nguyễn Vinh Phúc, Nxb Hà Nội, 2000. 
- “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô" của Tiến sĩ Nguyễn Quang Lân, Tạp chí du lịch Việt Nam, số 2/2005. 
Các công trình nói trên đã phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở Hà Nội trong thời gian qua và đề xuất các phương hướng, giải pháp cho phát triển du lịch ở Thủ đô trong thời gian tới. 
Về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch có các công trình tiêu biểu: 
 - “du lịch và vấn đề giữ gìn văn hoá dân tộc ở Hà Nội” của Phó Giáo sư- Tiến sĩ Lê Hồng Lý, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000. 
- “Quan hệ du lịch - văn hoá và triển vọng ngành du lịch Việt Nam” của Thạc sĩ Ngô Kim Anh, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000. 
- “Về hiệu quả kinh tế - xã hội của văn hoá qua hoạt động du lịch” của Tiến sĩ Trần Nhoãn, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 4/2002. 
- “Suy nghĩ về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động du lịch" của nhà nghiên cứu Huỳnh Thị Mỹ Đức, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 6/2002. 
Các tác giả đã ít nhiều đề cập tới mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch, phát triển du lịch 
gắn với phát triển văn hoá ở nước ta nói chung, ở Hà Nội nói riêng. 
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách 
hệ thống về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội). 
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 
Mục đích của luận văn là nhằm phát huy vai trò của văn hoá đối với sự phát triển 
du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà 
Nội). 
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau: 
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá, du lịch, về mối quan hệ văn hoá và du lịch
- Đánh giá giá trị các nguồn lực văn hoá và thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội). 
- Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa việc kế thừa và phát huy các giá trị và bản sắc văn hoá dân tộc với phát triển du lịch ở thủ đô Hà Nội và ở nước ta hiện nay. 
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 
 Đề tài tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết   mối quan hệ giữa văn hoá và sự phát triển du lịch ở nước ta và ở thủ đô trong những năm gần đây, chủ yếu là từ năm 2000 đến nay. 
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 
Đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác 
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, 
Nhà nước và Thành uỷ Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội về phát triển văn hoá và du 
lịch. 
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành là phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học… 
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn 
-Đề tài góp phần giải quyết cơ bản mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trên bình diện lý luận. 
- Phân tích đánh giá những giá trị của di sản văn hoá Thăng Long  - Hà Nội nguồn lực cho phát triển du lịch ở Thủ đô. 
- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm giải quyết tốt mối 
quan hệ giữa văn hoá Thăng Long - Hà Nội đối với sự phát triển du lịch ở thủ đô hiện 
nay. 
7. Kết cấu của luận văn 
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. 

Chương 1 
Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hoá 
du lịch trong quá trình đổi mới ở nước ta 
1.1. quan niệm về văn hoá 
1.1.1. Khái niệm văn hoá 
Một quan niệm đầy đủ về bản chất của văn hoá ngày càng được xác định. Nếu trước đây khái niệm văn hoá chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp trong giới hạn các hoạt động văn học, nghệ thuật thì ngày nay văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất và tinh thần của xã hội do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn - lịch sử của mình, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội.Trong lễ phát động: 
Thập  kỷ  thế  giới  phát  triển  văn  hoá“  (Pari  tháng  12/1986)  Ông  F. Mayor Tổng giám đốc UNESCO đã cho rằng:  “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [35, tr.32]. 
Định nghĩa này rất phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã nêu ra cách đó trên 40 năm: 
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [45, tr.431]. 
Như vậy từ trong quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hoá, về phạm vi rộng lớn của văn hoá, về mặt biểu hiện của văn hoá trong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con người. 
Nguồn gốc của văn hoá, theo Hồ Chí Minh là do nhu cầu sinh tồn và mục đích 
đời sống của con người. Con người không thể tồn tại nếu như không có khả năng sáng 
tạo và phát minh ra văn hoá nhằm đối phó với những thử thách của thiên nhiên và xã hội. 
Về phạm vi và nhân tố cấu thành văn hoá, Hồ Chí Minh soi xét cả hai mặt vật chất và tinh thần. 
Về mặt tinh thần đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật. 
Về mặt vật chất đó là những công cụ của sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng những công cụ ấy. 
Quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh về văn hoá có ý nghĩa cực kỳ 
lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà 
bản sắc dân tộc khi mà Đảng ta xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội". 
1.1.2. Vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội 
Trước đây do thiếu hiểu biết, nhiều người vẫn giữ quan niệm cho rằng: Văn hoá 
như là một lĩnh vực đứng ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp, chỉ khi kinh tế phát triển thì 
mới có điều kiện mở mang các hoạt động văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của con 
người. Với quan niệm đó, văn hoá được coi như là một hoạt động có tính giải trí, khi 
kinh tế còn khó khăn thì ít người quan tâm đến văn hoá, và rõ ràng trong điều kiện đó 
thì người ta không thể nhận thấy vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế. 
Trong thời gian gần đây, từ việc xem xét sự phát triển của nhiều quốc gia mà đặc biệt là các quốc gia ở khu vực châu á - Thái Bình Dương, người ta đã tìm thấy những dấu ấn và đặc trưng văn hoá trong phát triển của các quốc gia đó. Thực tế đó đã khiến người ta không chỉ thừa nhận sự tác động của các yếu tố văn hoá vào quá trình phát triển kinh tế, mà còn đi sâu xem xét vai trò của văn hoá cũng như tầm quan trọng của việc đưa các yếu tố văn hoá vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. 
Văn hoá và kinh tế có sự gắn bó tác động biện chứng với nhau. Kinh tế phải bảo 
đảm được nhu cầu sống tối thiểu của con người sau đó mới đảm bảo điều kiện cho văn 
hoá phát triển. Kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn hoá, đồng 
thời văn hoá không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến phát triển kinh 
tế. Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể năng động, hiệu quả, bền vững 
chừng nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà giữa kinh tế với văn hoá. 
Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng dân tộc, là những di sản quí 
báu tích luỹ được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc của quốc gia, dân tộc đó. Nhưng 
đồng thời với quá trình phát triển, kế thừa và giữ gìn bản sắc riêng đó, nó còn tiếp thu 
những tinh hoa văn hoá của các quốc gia, dân tộc khác, làm cho văn hoá vừa đậm đà bản 
sắc dân tộc, vừa có tính thời đại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong điều kiện cách 
mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ. Bối cảnh này làm 
cho vai trò của văn hoá trong hoạt động kinh tế ngày càng được nâng cao, văn hoá khơi 
dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết định sự tăng trưởng nhanh và bền 
vững. 
Sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta là sự phát triển theo con đường xã hội 
chủ nghĩa, vì vậy cần nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp 
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tế khủng hoảng diễn ra ở nhiều nước xã hội chủ 
nghĩa trong thời gian qua đã cho thấy những nước đó đã đặt không đúng vị trí của văn 
hoá trong phát triển, có những quan niệm không đúng về cách mạng văn hoá và tư 
tưởng: Văn hoá thường được xem là yếu tố đứng ngoài kinh tế, tuỳ thuộc vào kinh tế. 
Quá trình phát triển văn hoá vì thế lệ thuộc vào sự trợ cấp của kinh tế, được hoạch định 
như chính sách xã hội. Mặt khác, cách mạng văn hoá được coi như là cách mạng chính 
trị, do đó những cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng thường bị biến dạng thành những 
cuộc đấu tranh chính trị đơn thuần như chúng ta đã thường thấy ở một số nước…Thực 
tế này đòi hỏi phải có nhận thức mới về vai trò của văn hoá trong cách mạng xã hội chủ 
nghĩa. 
Wang Yalin một học giả của Trung Quốc cho rằng: Công cuộc hiện đại hoá xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc hiện nay đang phải thực hiện “sự vượt qua kép” tức là phải thực hiện: 
Thứ nhất, cả công nghiệp hoá và cả hậu công nghiệp hoá. 
Thứ hai, cả về phát triển kinh tế và phát triển nhân văn. 
Phát triển kinh tế và nhân văn xã hội là những bộ phận quan trọng của sự phát 
triển toàn bộ xã hội dựa vào nhau và thúc đẩy lẫn nhau để phát triển. ông cho rằng phát 
triển nhân văn xã hội một mặt được sự hỗ trợ của phát triển kinh tế, mặt khác lại thực 
hiện một số chức năng đối với phát triển kinh tế như sáng tạo ra môi trường tốt đẹp cho 
phát triển kinh tế trở thành hệ thống đảm bảo cho sự phát triển. Và phát triển nhân văn 
xã hội lấy con người làm hạt nhân cung cấp hệ thống định hướng giá trị cho phát triển 
kinh tế. 
Như vậy rõ ràng là những nhân tố nhân văn xã hội, hay nói cách khác những nhân tố văn hoá không thể thiếu vắng trong động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tiến bộ văn hoá. 
Theo khẳng định của UNESCO: “Nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của những ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều” [60, tr.5]. 
Văn hoá ngày nay đang trở thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế. Trong bất kỳ thời kỳ nào, quốc gia nào, con người nào cũng đều đóng vai trò quyết định với quá trình sản xuất. Mà con người trước hết là một thực thể văn hoá. Tố chất con người (tinh thần yêu nước, trình độ khoa học kỹ thuật, tinh thần tổ chức xã hội, tính nhân văn, nhân bản…) cao thấp có ý nghĩa quyết định sức mạnh của văn hoá. Sự phát triển của mỗi quốc gia không phải chỉ ở tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng mà quyết định là ở sự sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, ở trong hàm lượng và sự phân bố tài nguyên tri thức trong cơ cấu sản xuất… 
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng văn hoá, giáo dục đào tạo và 
khoa học công nghệ. Các văn kiện Hội nghị Trung ương khoá VII, VIII, IX của Đảng 
Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. 
Yếu tố nền tảng của văn hoá ở đây là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm và sự 
khôn ngoan tích luỹ được trong quá trình học tập, lao động, đấu tranh để duy trì và phát 
triển cuộc sống con người. Muốn đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần 
phải có sự hiểu biết về tri thức, kinh nghiệm, khoa học công nghệ hiện đại của nhân 
loại, đồng thời phải biết phát huy các giá trị của truyền thống văn hoá. Nhân tố nền tảng 
này nếu được khai thác và biết cách phát huy thì sẽ trở thành một động lực to lớn cho sự 
phát triển kinh tế. 
Kinh nghiệm cho thấy, so với nước Mỹ thì Nhật Bản còn có một số kỹ thuật 
nhập khẩu từ Mỹ, nhưng con đường để cho các xí nghiệp của Nhật Bản vượt các xí 
nghiệp Mỹ về tăng năng suất lao động lại chính là việc sử dụng các yếu tố truyền thống 
trong đó phải kể đến tinh thần gia tộc và tinh thần quần thể của người Nhật. Người 
Nhật đã biết phát huy những đặc điểm ưu việt của nền văn hoá truyền thống thông qua 
một hệ thống giáo dục và hoạt động văn hoá có sự đầu tư thích đáng về vật chất và tinh 
thần. Họ đã không để cho làn sóng hiện đại hoá và giao lưu văn hoá ồ ạt của thời kỳ 
mới lấn át các cơ sở văn hoá truyền thống được cố kết hàng ngàn năm lịch sử của dân 
tộc như tinh thần kỷ cương trong lao động, tôn ti trật tự cần thiết trong sự điều hành xã 
hội, mối liên hệ gia đình, làng xóm, dân tộc có tác dụng đối với lao động, đức tín 
nghĩa… 
Bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp của văn hoá nhân loại Đảng ta đã cho 
rằng bản sắc văn hoá dân tộc là trụ cột của sức mạnh văn hoá. Truyền thống văn hoá 
cùng với tinh thần dân tộc là nguồn tài nguyên của dân tộc và đất nước. Trong lịch sử 
hàng chục thế kỷ chống ngoại xâm của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong 
truyền thống văn hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời Đảng ta 
đã động viên, phát huy cao độ tinh thần yêu nước để giành và giữ vững nền độc lập dân 
tộc gắn liền với xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Đảng ta luôn nhấn mạnh việc giữ gìn và 
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc tiếp thu tinh hoa của văn hoá 
nhân loại, nhấn mạnh tính dân tộc đồng thời với tính khoa học và đại chúng, tính tiên tiến gắn với bản sắc dân tộc đậm đà. Đó chính là bản lĩnh, bản sắc văn hoá Việt Nam, sức mạnh của văn hoá Việt Nam là nền tảng, động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. 
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã xác định nhiệm vụ: “Mở cuộc vận động 
giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết 
xây dựng đời sống văn hoá”. Phong trào này đã nhanh chóng được triển khai sâu rộng 
và sáng tạo, góp phần làm cho đời sống chính trị ổn định, kinh tế phát triển, giảm bớt 
các hộ đói nghèo, giảm các tệ nạn xã hội, phát huy được tình làng nghĩa xóm, làm đẹp 
cảnh quan môi trường, làm cho đời sống văn hoá tinh thần ngày càng phong phú hơn. 
Hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta nhận thức sâu sắc rằng toàn cầu hoá là cơ hội để văn hoá Việt Nam học hỏi và phát huy các giá trị của mình. Song chúng ta cũng đối mặt với các thách thức to lớn của quá trình toàn cầu hoá đối với các giá trị truyền thống dân tộc. Logíc tồn tại của nền văn hoá dân tộc hiện nay đang diễn ra trong hai quá trình: quá trình đẩy nhanh sự hợp tác trao đổi và quá trình gia tăng bản sắc của dân tộc. Hai quá trình này thống nhất biện chứng trong quá trình toàn cầu hoá. Chúng ta nhất thiết phải mở cửa, phải hội nhập để đón nhận những giá trị mới của nhân loại, đó là lẽ sống còn của dân tộc nhưng mở cửa để hội nhập và phát triển, mở cửa phải giữ vững nền độc lập dân tộc và gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ được cơ cấu và giá trị nội sinh của văn hoá dân tộc. 
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và trong xu thế toàn cầu hoá, các quan hệ kinh tế sẽ mang lại sự hưởng thụ các sản phẩm vất chất và tinh thần của nhân loại với giá rẻ hơn, tiện nghi thuận lợi hơn song nó có khả năng thúc đẩy lối sống tiêu thụ thực dụng, làm tha hoá nhân cách, làm rối loạn những giá trị xã hội, nó phá vỡ sự cân bằng của môi trường truyền thống, nó thương mại hoá không ít các hoạt động văn hoá và quan hệ xã hội. Hệ giá trị làng xã Việt Nam với một cơ cấu cộng đồng bền chặt đang phải thử thách trước làn sóng đầu tư trong quá trình toàn cầu hoá. Các mối quan hệ trong gia đình, làng xóm có phần lỏng lẻo dần. Khát vọng làm giàu của các thế hệ đặc biệt là thanh niên đang gia tăng trước thời cơ và vận hội này với không ít lệch lạc làm thay đổi cơ cấu giá trị của nền kinh tế cũ để chuyển sang nền kinh tế thị trường. 
Việt Nam đã tham gia hội nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á (aSEAN), tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC) tiến tới gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm liên kết các giá trị khu vực và quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá gia tăng mạnh mẽ. Chúng ta cũng bước đầu xây dựng một chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Trong chiến lược này, văn hoá được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Để Việt Nam phát triển được trong quá trình toàn cầu hoá, trước hết phải quan tâm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá đó xác lập hệ giá trị cơ bản là yêu nước và tiến bộ với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưỏng Hồ Chí Minh làm định hướng và thước đo giá trị. 
Các giá trị văn hoá là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần 
thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích thích sáng tạo, năng động trong nền kinh tế thị trường 
nhưng bên cạnh đó những phản giá trị như chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu thụ … xuất 
hiện đã làm thay đổi bản chất nhân cách của con người và các quan hệ xã hội, kích 
thích chủ nghĩa cá nhân, tính vị kỷ…Hơn lúc nào hết, ngày nay văn hoá phải góp phần 
bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá đích thực để thúc đẩy và hướng dẫn sự phát 
triển và hoàn thiện nhân cách của con người trước những thách thức của toàn cầu hoá 
và kinh tế thị trường. 
Nếu chúng ta cho rằng văn hoá là hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị 
hiếu và lối sống được các cộng đồng sáng tạo nên qua lịch sử phát triển hàng thế kỷ, 
dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình, thì rõ ràng văn hoá không 
đứng ngoài mà nằm ở trong, là nhân tố nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn 
hoá với vai trò của mình làm nền tảng và định hướng cho cái đúng, cái hay, cái đẹp 
trong tư duy của nhà chiến lược, trong suy nghĩ của nhà hoạch định chính sách, trong 
hành vi ứng xử của doanh nhân, trong ngoại giao và trong hoạt động du lịch… 
Từ Đại hội VI (1986) đến nay nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở 
rộng kinh tế đối ngoại, bước vào ngưỡng cửa của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất 
nước. Muốn thực hiện được tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi 
mới, điều quan trọng trước tiên là phải phát huy nguồn lực văn hoá, nâng cao trình độ văn hoá của toàn dân tộc. 
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những quan điểm cơ bản chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa: 
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc 
đẩy công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 
- Nền văn hoá mà chúng ta cần xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản 
sắc dân tộc mang nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại. 
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng của một quốc gia 
dân tộc thống nhất; tổng hoà các tinh hoa văn hoá của các dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất Việt Nam. 
- Văn hoá là một mặt trận, người làm văn hoá là chiến sỹ trên mặt trận ấy. 
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp sáng tạo 
của toàn dân do Đảng lãnh đạo, đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân là lực lượng quan 
trọng. 
- Có chính sách đầu tư thích đáng cho văn hoá, văn nghệ, khoa học, giáo dục…, 
coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển. Phát triển các hoạt động văn hoá, văn 
nghệ của Nhà nước, tập thể và các cá nhân bảo đảm định hướng chính trị của Đảng và 
Nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền tự do sáng tạo của các nhà hoạt động văn hoá… 
Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khoá IX của Đảng đã khẳng định: “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần xã hội… bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” [33, tr.4]. 
1.2. Quan niệm về du lịch 
1.2.1. Khái niệm du lịch 
du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ 
ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Mặc dù 
vậy cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất. 
Với những cách tiếp cận khác nhau, các học giả đã đưa ra những khái niệm khác 
nhau về du lịch: Theo từ nguyên, trong tiếng Anh “to tour" có nghĩa là dã ngoại; trong 
tiếng Pháp “tour“ có nghĩa là đi dạo chơi, leo núi, vận động ngoài trời; trong tiếng Việt, 
du lịch là một từ đã có từ lâu gắn liền với các chuyến đi: Kinh lý, tham quan, vãn cảnh, 
thăm viếng… của các nho sỹ, các tầng lớp vua chúa, quan lại, các nhà truyền giáo… 
Trong Từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là “đi chơi cho biết xứ người" 
[71]. 
- Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người” [72]. 
Kuns, học giả người Thụy Sĩ xác nhận: “du lịch là hiện tượng những người chỗ khác đi đến nơi không phải thường xuyên cư trú của họ bằng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ du lịch” [52, tr.29]. 
Hai học giả Hoa Kỳ là Mathieson và Wall gắn kết cả cách nhìn nhận về du lịch từ phía người đi du lịch và người kinh doanh du lịch. Các ông viết: “du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ” [61, tr.11]. 
Năm 1963 với mục đích quốc tế hoá khái niệm du lịch, tại hội nghị Liên hợp 
quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: 
du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ 
các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường 
xuyên của họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của 
họ” [61, tr.12]. 
Xuất phát từ hiện tượng du lịch, nhà nghiên cứu Trần Nhạn đã đưa ra một khái niệm 
khá toàn diện về bản chất đích thực, cơ bản của du lịch: “du lịch là quá trình hoạt động của 
con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền” [52, tr.30]. 
Như vậy các định nghĩa về du lịch nói trên đã tiếp cận khái niệm du lịch theo 
nghĩa rộng hơn, không chỉ đề cập du lịch đối với khách du lịch vãng lai mà còn thêm 
vào đó các hoạt động kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của 
khách du lịch đi qua và ở lại (như việc vận chuyển, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, hướng 
dẫn tham quan, giải trí…) và các giá trị văn hoá tinh thần thu nhận được trong quá trình 
du lịch. Khái niệm du lịch trong Luật du lịch của Việt Nam cũng xuất phát từ cái nhìn 
toàn diện này: 
du lịch là các hoạt dộng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [42, tr.9]. 
1.2.2. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội. du lịch đã khẳng định được vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước như một ngành “công nghiệp không khói ”. 
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và phát triển với tốc độ nhanh. Theo số liệu của Tổ chức du lịch thế giới thì năm 1950 toàn thế giới có 25 triệu du khách, đến năm 1990 con số này đã lên tới 450 triệu (tăng 18 lần sau 20 năm). Tính riêng trong vòng mười năm gần đây số khách du lịch quốc tế đã tăng từ 339 triệu năm 1986 lên 592 triệu năm 1996 và đến năm 2000 con số này đạt tới 637 triệu và khoảng 937 triệu vào năm 2010. 
Theo tính toán của các chuyên gia du lịch quốc tế, chỉ trong vòng 36 năm (từ 1960 - 1996) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng 62 lần (từ 6,8 tỷ USD năm 1960 tăng lên 423 tỷ USD năm 1996), riêng năm 1995 ngành du lịch toàn cầu đã tạo việc làm cho 212 triệu người và dự tính đến năm 2005 con số này sẽ lên tới 338 triệu trên phạm vi toàn thế giới. 
Nhiều tài liệu nghiên cứu cũng đã chỉ rõ: du lịch là ngành lớn nhất thế giới, tính 
theo sản phẩm thu được, là ngành đứng đầu về thu thuế, là ngành có khả năng nhất 
 trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp lao động. Từ 1990-1993, số người làm việc trong ngành du lịch tăng nhanh hơn 50% so với tốc độ tăng công ăn việc làm trên thế giới. Hội đồng du lịch và Kinh doanh du lịch thế giới ước tính: du lịch và kinh doanh du lịch tạo ra cho 144 triệu việc làm trên thế giới từ 2000 đến 2005, trong đó 112 triệu là ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu á -
Thái Bình Dương. Họ đã tính số tiền khách du lịch chi trả cho các chuyến du lịch sẽ tăng từ 450 tỷ USD năm 1998 lên 555 tỷ USD năm 2000 và 1500 tỷ USD vào năm 2010. Như vậy sau 20 năm nữa du lịch rất có thể sẽ trở thành ngành kinh tế phát triển mạnh hàng đầu thế giới [75] 
Với đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, từ năm 1986 đến nay, 
ngành du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Chương trình hành 
động quốc gia về du lịch với tiêu đề: “Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã 
mạng lại cho du lịch Việt Nam những kết quả quan trọng, góp phần đẩy nhanh sự phát 
triển kinh tế - xã hội, thay đổi diện mạo và khẳng định tầm vóc của du lịch nước ta, rút 
ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực. Qua chương trình này có 42 
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban chỉ đạo Phát triển du lịch, 14 
Bộ, Ngành có chương trình, kế hoạch phối hợp triển khai chương trình. Đây là tiền đề 
quan trọng huy động nguồn sức mạnh tổng hợp cho phát triển du lịch
Ngành du lịch thời gian qua đã tổ chức hàng loạt các lễ hội và liên hoan văn hoá 
- du lịch lớn trong cả nước, thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước: 
Festival Huế tổ chức hai năm một lần, Đêm rằm phố cổ Hội An, Liên hoan du lịch đất 
Phương Nam, Lễ hội văn hoá - du lịch 100 năm Đà Lạt, 110 năm Sapa, Năm du lịch Hạ 
Long, Năm du lịch Điện Biên Phủ và hàng chục các lễ hội truyền thống được khôi phục 
và nâng cấp phục vụ mục đích du lịch. Hàng chục vạn ấn phẩm quảng bá du lịch bằng 
nhiều thứ tiếng đã được phát hành. Hình ảnh cô gái Việt Nam và tiêu đề “Việt Nam -
Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã tạo nên sự quen thuộc, gần gũi đối với mọi người 
trên thế giới. Nhờ những hoạt động du lịch văn hoá nói trên chúng ta đã thu hút được 
lượng khách quốc tế khá đông đảo mặc dầu phải đương đầu với không ít khó khăn 
thách thức do khách quan đưa lại. Theo thống kê của Tổng cục du lịch, lượng khách 
quốc tế đến nước ta giai đoạn 2000-2004 tăng gần một triệu lượt người, khách nội địa tăng 3,5 triệu lượt. Năm 2000, năm đầu tiên thực hiện chương trình, lượng khách quốc tế đạt 2,14 triệu lượt tăng 20,1% so với 1999 và gấp 8,4 lần so với năm 1990, khách nội địa đạt 11,2 triệu lượt người, tăng 5,7% so với năm 1999. Thu nhập xã hội từ du lịch đạt 1,2 tỷ USD, tăng 19% so với năm 1999. Riêng năm 2004 đã đón được 2.927.837 lượt khách quốc tế, 14 triệu lượt khách nội địa, thu nhập xã hội từ du lịch đạt 1,65 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2003 [37, tr.53]. 
Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch trong thời gian qua đồng chí Vũ Khoan, 
Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch đã nhận định: 
Hoạt động du lịch khởi sắc đã tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước, khôi phục nhiều nghề thủ công truyền thống, góp phần vào sự phát triển của hàng không, văn hoá - thông tin và các ngành khác liên quan đến du lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế [37, tr.53]. 

1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch 

Giữa văn hoá và du lịch luôn có mối liên hệ khăng khít, mật thiết. Đó là khai thác và phát huy các di sản và giá trị văn hoá, một bộ phận thiết yếu nhất của nguồn tài nguyên du lịch, việc phát triển du lịch hướng vào mục tiêu văn hoá, nâng cao tố chất văn hoá trong kinh doanh du lịch… 

1.3.1. Di sản văn hoá, giá trị văn hoá là nguồn lực cho phát triển du lịch 

Chúng ta đã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vị trí đặc biệt quan trọng của văn hoá Việt Nam đối với sự phát triển toàn diện đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó có du lịch, một ngành kinh tế đang trở thành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thế kỷ XXI. 
Nhiều người đã khẳng định rằng nếu không có truyền thống, vẻ đẹp độc đáo, những giá trị và công trình văn hoá thì du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh được, sẽ mất đi sự hấp dẫn riêng của nó. 
 Trong Luật du lịch được ban hành năm 2005 thì tài nguyên du lịch được xác định là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [42, tr.9]. 
Với nhận định trên, có thể khẳng định rằng phần lớn tài nguyên du lịch là các giá 
trị, các thành tựu, các công trình văn hoá của dân tộc trong sự gắn bó với môi trường tự 
nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch còn gắn trực tiếp với tiến trình lịch sử 
của đất nước, với truyền thống văn hoá của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. 
Như vậy, đối với du lịch, đặc biệt đối với du lịch bền vững, văn hoá trở thành tài 
nguyên tạo nên sự hấp dẫn có chiều sâu nhất đối với du lịch. Và sở dĩ du lịch là một 
ngành kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ bởi vì trong nó có hàm chứa nội dung văn hoá 
sâu sắc và phong phú. Để du lịch phát triển bền vững thì nó phải tuân thủ một yêu cầu 
khách quan hết sức nghiêm ngặt là phải đảm bảo sự bền vững về văn hoá. Việc khai 
thác các giá trị văn hoá nhằm phục vụ nhu cầu du lịch hiện tại song không được làm tổn 
hại đến các giá trị văn hoá, phải bảo tồn các di sản văn hoá cho các thế hệ mai sau. 
Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hoá - Thông tin đến năm 2001, Việt Nam có tổng số di tích văn hoá đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng là 2.597, trong đó: 
- Di tích lịch sử là 1266. 
- Di tích kiến trúc nghệ thuật là 1205. - Di tích khảo cổ là 38. 
- Danh lam thắng cảnh là 88. 
(Đặc biệt trong số này có 6 di sản văn hoá được thế giới công nhận là di sản thế giới đó là: Cố Đô Huế (Thừa Thiên - Huế); Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Khu phố cổ Hội An (Quảng Nam); Khu di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam); Vườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng (Quảng Bình); Nhã nhạc cung đình Huế (Thừa Thiên - Huế).) 
Đó là những di sản văn hoá độc đáo ở mọi vùng, miền của đất nước nơi lưu giữ 
bao chiến công, hào hùng của dân tộc Việt Nam, nơi ẩn chứa với những giá trị nhân 
 bản sâu sắc, độc đáo của dân tộc Việt Nam trong suốt trường kỳ dựng nước và giữ nước, tất cả hợp thành bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc. 
Các di sản văn hoá có mặt ở hầu hết ở các địa phương trên cả nước từ miền ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành thị, đó là lợi thế để ngành du lịch phát huy các di sản văn hoá trong tổ chức hoạt động du lịch. Có thể khẳng định rằng tiềm năng to lớn của du lịch Việt Nam nằm trong văn hoá dân tộc. 
Chẳng hạn, Chùa Việt Nam là điểm hẹn rất hấp dẫn của khách du lịch quốc tế và nội địa. Đây vừa được coi là nơi linh thiêng thu giữ khí trời đất, vừa luôn gắn liền với xóm làng, vừa là nơi giải toả và thanh lọc tâm hồn con người. Vì vậy nó có sức hẫp dẫn lôi cuốn mạnh mẽ du khách, trở thành yếu tố không thể thiếu được trong tổ chức các loại hình du lịch, các cuộc hành hương của du khách trong và ngoài nước. 
ở hà Nội, số chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá là 116 chùa, trong đó có nhiều chùa nổi tiếng như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Cổ Loa… 
Hà Tây có 90 chùa được công nhận, trong đó có nhiều chùa là di sản quý hiếm 
của cả nước như chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Hương, chùa Đậu, chùa Mía… 
ở Bắc Ninh, Bắc Giang có tới 44 chùa được công nhận là di tích, trong đó có chùa Phật Tích, chùa Dâu nổi tiếng. 
ở Nam Định có chùa Keo, chùa Cổ Lễ... 
ở Nam Bộ các ngôi chùa Khơmer có vị trí đặc biệt đối với đồng bào Khơmer và đối với cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và chùa là nơi giáo dục toàn dân, là thư tàng cổ, là điểm gặp gỡ vui chơi của dân phum sóc trong các ngày lễ. Bên cạnh đó chúng ta lại tự hào với những địa đạo, những khu căn cứ cách mạng, nhà tù chính trị như địa đạo Củ Chi, nhà tù Côn Đảo, Hoả Lò… đó là những di tích, những bằng chứng sống của cuộc chiến tranh khốc liệt mà oai hùng của Đảng và nhân dân ta trong thế kỷ XX. Những di tích đó đã và đang được bảo tồn, phát huy. Du khách về đây là dịp hồi tưởng về quá khứ chiến tranh yêu nước và cách mạng, các di tích đó có tính giáo dục cao về truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam. Cùng với các di tích lịch sử văn hoá như là những tài nguyên tĩnh thì các loại 
hình văn hoá phi vật thể là tài nguyên động của du lịch Việt Nam. Tính chất động của 
nó đặc biệt do gắn liền với hoạt động của con người, tái hiện, tái tạo của bản thân con 
người trong quá khứ và hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính toàn vẹn, tính hình 
tượng cụ thể cảm tính, sinh động của nó, tạo nên môi trường du lịch độc đáo và sức hấp 
dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch từ nơi xa đến (những lễ hội dân gian, những chương 
trình nghệ thuật cổ truyền, những làn điệu dân ca…) chẳng hạn như Ca Huế và Hò Huế 
là loại hình ca hát được mọi người ưa chuộng thường được biểu diễn trên một con đò 
lững lờ trôi giữa dòng Hương Giang. Du khách đến Huế sau những ngày tham quan các 
di tích - lịch sử văn hoá, thắng cảnh được thả mình trên dòng Hương Giang nghe hò thả 
tâm hồn mình vào những câu  “nam ai nam bằng" trải dài như bất tận, lửng lơ trong 
không gian, một phần như chùng chình, giăng túi trên mặt nước nghe lưu luyến, nỉ non, 
xốn xang lòng người. Cùng với nó là những điệu múa cung đình Huế, những tiết mục 
múa rối nước Thăng Long- Hà Nội, những làn điệu dân ca mượt mà sâu lắng của người 
dân quan họ Bắc Ninh. 
Điều đáng quí và độc đáo hơn cả, tạo nên sức hấp dẫn của du lịch là nguồn di sản văn hoá phi vật thể được truyền bá từ ngàn năm lịch sử. Yêu nước là truyền thống quí báu của dân tộc. Lòng yêu nước của dân tộc đã tô thắm lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó đã được giáo dục và lưu truyền cho các thế hệ mai sau. Phát huy tinh thần yêu nước chính là khẳng định bản lĩnh của con người và Tổ quốc Việt Nam trên trường quốc tế nhất là trong hoạt động du lịch
Ngoài các di tích, các lễ hội và truyền thống ngàn năm của dân tộc, chúng ta còn 
có rất nhiều di sản lễ hội của đồng bào các dân tộc như các lễ hội của đồng bào dân tộc 
Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ luôn có sức hẫp dẫn kỳ lạ đối với du khách. Nếu 
chúng ta biết cách khai thác, tổ chức tốt kết hợp với các tua du lịch, chúng ta có thể vừa 
bảo tồn các lễ hội, vừa coi lễ hội đó như là một hoạt động du lịch. Theo ý kiến của một 
số nhà nghiên cứu văn hoá thì một số tỉnh, thành như ở Bắc Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh 
Phúc, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Bắc Giang, Thái Bình hàng năm có rất nhiều lễ 
hội. Dĩ nhiên, không phải tất cả các lễ hội đều trở thành nội dung hoạt động du lịch, nhưng chứng tỏ rằng di sản văn hoá của chúng ta là một tài nguyên độc đáo, quí giá của du lịch
Nguồn lực văn hoá đa dạng và phong phú của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các 
dân tộc Việt Nam, được kết tinh từ tài năng, trí tuệ, tâm hồn con người Việt từ ngàn đời, đồng 
thời là kết tinh của quá trình giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới, 
đã tạo nên sự đa dạng về văn hoá, sự phong phú của các lễ hội, các phong tục tập quán của các 
dân tộc Việt Nam. 
Có thể nói, văn hoá là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch. Môi trường thiên 
nhiên và môi trường văn hoá, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch vì 
chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ sở cho phát triển du lịch. Ngày nay, xu 
hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hoá đang trở thành những loại 
hình du lịch chủ yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch. ở nhiều nước trên thế 
giới kinh nghiệm cho thấy rằng nếu quốc gia nào có truyền thống văn hoá lâu đời, có 
nhiều danh lam thắng cảnh thì quốc gia đó sẽ có thị trường du lịch hấp dẫn. 
Số liệu thống kê của một số nghiên cứu do Uỷ ban châu Âu tiến hành cho thấy 
20% du khách đến châu Âu với động cơ văn hoá, 60 % du khách người châu Âu quan 
tâm đến việc tìm hiểu, khám phá các sự kiện, hiện tượng văn hoá trong chuyến đi của 
họ. 
Văn hoá còn góp phần cấu thành nên môi trường văn hoá cho du lịch. Văn hoá làm cho du khách sung sướng, vừa lòng, những tình cảm tốt lành, những kỷ niệm đẹp cho du khách sau những chuyến đi. Văn hoá cung cấp tri thức, các phép ứng xử văn minh lịch sự cho hoạt động du lịch
Một trong những lĩnh vực góp phần phát triển tốt cho lễ hội là du lịch. Mặt khác du lịch cũng tìm thấy ở lễ hội một chỗ dựa vững chắc, một kho tàng phong phú để khai thác nhằm phát triển sự nghiệp của mình. 
Trong các cuộc hội nghị bàn về chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam đến năm 
2010, nhiều ý kiến cho rằng không có yếu tố truyền thống, vẻ đẹp độc đáo, những giá 
trị và công trình văn hoá, du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh được, sẽ mất đi sự 
hấp dẫn riêng của nó. Vì du lịch chính là để hiểu hơn văn hoá Việt Nam đặc biệt là văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc anh em mang sắc thái khác nhau, 
song cùng hoà quyện với sắc thái thiên nhiên tạo thành bức tranh văn hoá hết sức độc 
đáo giàu truyền thống được lưu truyền trong các bảo tàng, sự khéo léo của các làng 
nghề truyền thống, cách xử sự nồng nhiệt đậm đà thú vị qua các món ăn ẩm thực, 
phong tục tập quán riêng qua các lễ hội…Số liệu thống kê thời gian qua cho biết: 
+ Có gần 30.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự Lễ hội 100 năm Sapa. 
+ 77.000 lượt khách dự tại chương trình Tháng Tám - Nha Trang - Điểm hẹn + Mê Kông Fetival 2003 thu hút gần 120.000 lượt khách 
+ Lễ Hội Chùa Hương đón 356.524 năm 2004 
+ Đền Hùng trên 1.000.000 lượt khách 
+ Fetival Huế là 1.200.000 lượt khách. 
Việc tổ chức lễ hội văn hoá du lịch đã trở thành hoạt động quảng bá tiềm năng 
thúc đẩy hợp tác du lịch, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo thu hút khách khắp mọi 
nơi. Sự thành công của các sự kiện văn hoá du lịch không chỉ được thể hiện bằng số 
lượng khách đến tham dự mà còn ở chỗ sự tham gia phối hợp tổ chức của nhiều cấp, 
nhiều ngành trong khoảng thời gian dài trên các mặt: hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo ra 
sản phẩm mới, chỉnh trang môi trường, cảnh quan, giáo dục tuyên truyền cộng đồng địa 
phương đến công tác xúc tiến quảng bá... Vấn đề này cũng khẳng định ngành du lịch 
đang dần dần có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội của nhiều địa phương. 
Ngoài ra, hiệu quả của các sự kiện văn hoá lễ hội du lịch còn được đánh giá qua những 
lợi ích mang lại cho cộng đồng dân cư. Khi cộng đồng dân cư được chia xẻ lợi ích, họ 
sẽ tự biết bảo vệ nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bền vững. 
1.3.2. Văn hoá là mục tiêu của phát triển du lịch 
Văn hoá và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau. Phát huy bản sắc, 
truyền thống văn hoá trong kinh doanh du lịch, tạo động lực cho kinh doanh du lịch 
phát triển. Bất kỳ một ngành kinh tế nào cũng đều hướng tới lợi nhuận, để đạt tới lợi 
nhuận có rất nhiều phương thức khác nhau trong đó có việc phát huy nhân tố con 
người. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải lấy nó làm động lực để thúc đẩy sản xuất. Đồng thời với việc nhận thức rõ vai trò của những nhân tố truyền thống văn hoá trong kinh doanh du lịch như phong tục, tập quán, nếp sống… được sử dụng như một phương thức kinh doanh. 
Yếu tố truyền thống văn hoá trong kinh doanh du lịch có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của du lịch. Muốn có hiệu quả trong kinh doanh điều quan trọng không chỉ thoả mãn nhu cầu của khách bằng cơ sở vật chất của mình mà điều quan trọng hơn chiếm được tình cảm của khách qua việc phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc. 
du lịch vừa là ngành dịch vụ, vừa là ngành sản xuất, vừa tiêu thụ sản phẩm của 
chính mình. Trong du lịch phần lớn các dịch vụ đều do con người thực hiện. Khách sạn 
là nơi tiếp đón và phục vụ rất nhiều đối tượng khác nhau về mục đích thăm viếng, quốc 
tịch, dân tộc… Ngay cách cư xử cũng thể hiện những phong tục tập quán khác nhau. 
Người Hàn Quốc chào nhau bằng cách cúi gập người, người châu Âu hay bắt tay khi 
giao tiếp, người Việt là nụ cười thân mật nở trên môi. Người Việt ta có câu: 
"Lời nói chẳng mất tiền mua 
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Người Trung Quốc thì cho rằng: 
“Nếu không biết cười thì đừng bao giờ mở nhà hàng”. 
Giao tiếp là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến hoạt động du lịch. Trong điều kiện nước ta còn nghèo, kinh tế chưa phát triển, lòng hiếu khách, vẻ thanh lịch, sự tự tin trong giao tiếp ứng xử đối với khách nhất là khách quốc tế là điều rất cần thiết. Vì vậy những người làm du lịch đã phải hình thành cho mình một phong cách giao tiếp, ứng xử mang cốt cách Việt Nam nghĩa là mến khách, tôn trọng những nhu cầu chính đáng của khách, khéo léo lịch sự, nhã nhặn, bình đẳng với mọi người. Đó cũng là truyền thống văn hoá và nhân cách của người Việt Nam. 
Trang phục truyền thống với những gam màu sắc là yếu tố góp phần tạo cho 
khách cảm giác thoải mái khi sử dụng dịch vụ. Mỗi khách sạn đều chọn cho mình một 
kiểu trang phục phù hợp với điều kiện kinh doanh, điều kiện môi trường nơi hoạt động. 
Trang phục cũng là nét đẹp thể hiện sự tôn trọng đối với khách. Cảm nhận đầu tiên khi khách đến cơ sở du lịch tốt hay xấu là phụ thuộc vào thái độ, cử chỉ, trang phục của người đón tiếp. Nhiều khách sạn đã biết chọn cho mình kiểu trang phục mang sắc thái độc đáo, hài hoà với khung cảnh. Qua đó phần nào đánh giá được trình độ tổ chức của khách sạn đó. 
Việt Nam là quốc gia có  54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có sắc thái trang phục 
riêng. Kế thừa kho tàng phong phú về trang phục với những chất liệu như lụa, gấm, thổ 
cẩm… những người làm du lịch đã sáng tạo, áp dụng phù hợp với cơ sở của mình. 
Trang phục đã góp phần không nhỏ tạo ra sự thành công trong nghi thức ngoại giao, 
trong tiếp tân, trong các chương trình lễ hội của các vùng miền trên đất nước. 
Hoạt động của du lịch nhìn từ góc độ nào cũng gắn với tự nhiên. Các yếu tố tự 
nhiên như khí hậu, tài nguyên… thường xuyên thay đổi và tác động đến cung cầu du 
lịch. 
Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nếu như phương Tây có xu hướng cải tạo tự nhiên thì phương Đông nói chung, con người Việt Nam nói riêng lại có xu hướng hoà đồng với thiên nhiên. Họ yêu thiên nhiên và sống gắn bó với thiên nhiên vì họ hiểu những giá trị, những lợi ích to lớn mà thiên nhiên ban tặng họ: 
“ Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. 
Lối ví von như vàng, như bạc không chỉ có nghĩa là thiên nhiên giàu có mà chứng tỏ thiên nhiên trong tâm khảm người Việt là vô cùng quí giá, là nguồn sống, nguồn của cải vật chất mà con người phải tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn không chỉ cho thế hệ hôm nay mà cả cho thế hệ mai sau. 
Nguồn cảm hứng thẩm mỹ sâu sắc trước thiên nhiên, con người đã khám phá, xây dựng những công trình kiến trúc như đền, chùa, miếu mạo…, tuy không đồ sộ hoành tráng nhưng hài hoà với khung cảnh thiên nhiên và phù hợp với tâm thức của người Việt như các di tích lịch sử của Một Cột, chùa Trấn Quốc, Đền Hùng, Cố Đô Huế… Đây thực sự là hệ sinh thái nhân văn đẹp, hài hoà giúp cho con người cảm nhận sự thư giãn, sự linh thiêng trong các dịp lễ hội. 
Trước những vấn đề của cuộc sống, trước sức ép ngày càng tăng của công việc 
đô thị hoá, con người ngày càng có nhu cầu tìm đến với thiên nhiên, du lịch sinh thái
Loại hình du lịch gắn với thiên nhiên - du lịch sinh thái đang trở thành một hướng khai thác không thể thiếu được trong chính sách phát triển du lịch của các quốc gia. 
So với nhiều quốc gia trên thế giới, cảnh quan thiên nhiên Việt Nam còn khá 
hoang sơ, nhiều nơi con người còn chưa khám phá, rất phù hợp với loại hình du lịch thiên nhiên, du lịch xanh… Với đất nước có nhiều dân tộc với những nét văn hoá bản địa hấp dẫn, đầy hứa hẹn những tiềm năng cho việc khai thác và phát triển du lịch. Khai thác tốt và hợp lý với những chính sách phù hợp việc phát triển loại hình du lịch sinh thái chính là phát huy tốt mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong hoạt động du lịch. Đứng ở góc nhìn văn hoá, du lịch sinh thái chính là sự biểu hiện rõ rệt cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. 
Việt Nam là nước nông nghiệp, mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi người dân trong đó có hoạt động du lịch đã chi phối mạnh mẽ tới hành động thái độ ứng xử của con người với tự nhiên. 
Đẩy mạnh phát triển du lịch nhưng đồng thời phải tích cực bảo vệ môi trường sinh thái. Nếu hoạch định chính sách phát triển du lịch không có nội dung “phát triển bền vững”, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau thì việc khai thác du lịch không gắn với bảo vệ môi trường sẽ làm cho tự nhiên biến đổi nhanh chóng sẽ tác động tiêu cực đến du lịch
Hiện nay không ít khách than phiền về phí tham quan ở một số nơi quá đắt và 
môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Tại một số điểm du lịch, khi cộng đồng địa phương 
được hưởng các lợi ích vật chất từ hoạt động du lịch thì ý thức về bảo vệ môi trường 
được cải thiện rõ rệt. Khi đó những tác động tiêu cực tới môi trường cũng được hạn chế 
đáng kể (như ở khu du lịch Ao Vua, Vườn Quốc gia Ba Vì…). Văn hoá là mục tiêu của 
phát triển du lịch bền vững và lành mạnh. Vì vậy những người hoạt động du lịch phải 
có tri thức văn hoá phong phú, kinh doanh có văn hoá, phong cách văn hoá trong ứng 
xử giao tiếp… 
1.3.3. du lịch thúc đẩy giao lưu văn hoá phát triển 
du lịch và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ này được hình 
thành và củng cố dựa trên quá trình hình thành và phát triển một cách ngày càng đa dạng của các loại hình du lịch cũng như tốc độ phát triển nhanh chóng của du lịch trong nước, trong khu vực cũng như trên thế giới. 
Trong mối quan hệ với văn hoá, du lịch là yếu tố quan trọng đẩy mạnh giao lưu văn hoá giữa các vùng miền trong nước và giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới. 
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo 
tồn các di sản văn hoá. du lịch đã tạo nên điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của các địa phương và của các dân tộc phát triển. Nói một cách khác, du lịch đã có tác động quan trọng vào đời sống văn hoá của xã hội. 
Doanh thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng một phần cho việc tu bổ di 
tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục các làng nghề truyền thống như mây 
tre, gốm, dệt thổ cẩm… biến chúng trở thành hàng hoá bán cho khách tham quan. 
Đối với các giá trị văn hoá phi vật thể, hoạt động du lịch trong thời gian quan đã phục hồi và làm sống lại những lễ hội dân gian, văn nghệ dân gian, sinh hoạt tín ngưỡng… phục vụ du khách. 
du lịch còn có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và sinh thái. 
ý nghĩa xã hội quan trọng của du lịch là thông qua du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, đồng thời mở mang kiến thức đáp ứng lòng ham hiểu biết từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạnh tương lai của con người. Điều này quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội. 
Trong thời gian du lịch, khách du lịch thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá và thường tiếp xúc với dân địa phương, thông qua các cuộc tiếp xúc đó, khách và dân bản địa đều được trau dồi và nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá, lịch sử, những phong tục tập quán của khách và cả chủ nhà. 
du lịch là cầu nối hoà bình giữa các dân tộc. du lịch là giấy “thông hành của hoà 
bình” vì thông qua nó con người hiểu biết thêm các dân tộc trên thế giới, cảm thông và 
xích lại gần nhau hơn, thấy được cái hay cái đẹp mà con người đang khát vọng vươn tới vì ngày mai tốt đẹp hơn, qua đó mỗi dân tộc có sự chắt lọc, bổ sung, nâng cao nền văn hoá của mình. 
Để thế giới có thể tìm hiểu sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam, qua du lịch chúng 
ta đã giới thiệu nhiều di tích văn hoá, công trình văn hoá thiên tạo và nhân tạo của 
mình: Cố Đô Huế, Vịnh Hạ Long, di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong 
Nha - Kẻ Bàng…Tuần lễ du lịch Fetival Huế được tổ chức tại Cố Đô Huế là dịp để chúng 
ta giao lưu, trao đổi, hợp tác, làm cho chúng ta và bè bạn ngày càng “xích lại gần nhau 
hơn” trong không khí hữu nghị, đoàn kết đượm đà màu sắc văn hoá đa dạng, phong phú. 
Có thể nói các hoạt động giao lưu văn hoá giữa nước ta với các nước trên thế giới không ngừng tăng lên vừa phong phú về nội dung vừa đa dạng về hình thức trong thời gian qua là có sự đóng góp của hoạt động du lịch. Hoạt động này đã góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. 
Ngoài những thành tựu đã đạt được kể trên, hoạt động giao lưu văn hoá qua du lịch cũng còn có một số hạn chế: 
Trước hết là về nhận thức tư tưởng, đạo đức, lối sống xuất hiện, tệ sùng bái 
nước ngoài, coi thường những giá trị dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng cá nhân, vị 
kỷ đang gây tai hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc giao lưu văn hoá với 
nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở, văn hoá phẩm độc hại vào 
nước ta còn nhiều, tác phẩm văn hoá có giá trị của ta giới thiệu với nước ngoài còn ít. 
Tuy nhiên, những tồn tại và thiếu sót trên cũng không làm mờ đi những thành tựu lớn 
về văn hoá và du lịch mà chúng ta đã đạt được trong quá trình giao lưu và hội nhập. 
Thực tế đã chứng tỏ đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang phát 
huy tích cực, định hướng đúng đắn cho phát triển văn hoá và du lịch

Kết luận chương 1 

Văn hoá và du lịch có mối quan hệ qua lại hết sức mật thiết. Văn hoá là nguồn 
tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú đặc sắc có thể tạo ra các sản phẩm du lịch độc 
đáo để thu hút khách du lịch, là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch hiện nay. du lịch 
văn hoá đang trở thành một loại hình du lịch phổ biến và có hiệu quả cao. Hoạt động du 
lịch cũng có những tác động trở lại đối với văn hoá. du lịch chính là cầu nối để thúc đẩy trao đổi, giao lưu giữa các dân tộc quốc gia, cộng đồng với nhau đồng thời du lịch chính là động lực góp phần vào phát triển, giữ gìn bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc. Tuy nhiên sự phát triển du lịch cũng đang đặt ra cho văn hoá dân tộc những thách thức, những “nguy cơ bất ổn”. 
Thứ nhất: Đối với các di sản văn hoá, đặc biệt các di sản văn hoá vật thể có giá trị 
thì khách tham quan và sự bùng nổ số lượng khách đã trở thành mối nguy cơ đe doạ việc 
bảo vệ các di tích này. Sự có mặt quá đông của du khách cùng một thời điểm ở một di 
sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học cùng với yếu tố khí hậu nhiệt đới gây nên 
những huỷ hoại đối với các di sản và các động sản phụ như các vật thờ, các dụng cụ 
trang trí. 
Thứ hai: Sự phát triển của các dịch vụ du lịch tự phát thiếu sự kiểm soát đã tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi trường sinh thái tại các khu di tích. Hiện tượng viết và khắc chữ lên một số di tích, sự ô nhiễm môi trường từ khói bụi, các loại rác thải… đang xảy ra tác động trực tiếp đến các di tích… 
Thứ ba: Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể là các điểm nổi bật trong văn hoá của mỗi dân tộc. Do tác động của quá trình thương mại hoá, các giá trị này đang bị mai một. 
Thứ tư: Có sự xung đột giữa các giá trị văn hoá bản địa và văn hoá của du khách, 
đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhiều nơi đã và đang diễn ra những thay đổi không lành 
mạnh từ lối sống truyền thống sang lối sống hiện đại được du nhập thông qua khách du 
lịch. 
Thứ năm: Sự phát triển du lịch kèm theo buôn bán trái phép đồ cổ. Do hám lợi một số kẻ xấu đã ăn cắp cổ vật ở các khu di tích, đào bới các lăng mộ cổ và gom nhiều hiện vật quý trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu để bán với khách du lịch
Thứ sáu: Kinh tế du lịch được thúc đẩy là một tác nhân làm tăng sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội. Khắc phục được các thách thức và nguy cơ đó, văn hoá và du lịch nước ta chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững, toàn diện. 

Chương 2 
Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch 
Trên địa bàn Hà Nội 

2.1. Thực trạng bảo tồn và phát triển văn hoá nhằm phục vụ phát triển du
lịch
2.1.1. Di sản văn hoá Thăng Long Hà Nội nguồn lực cho phát triển du lịch Thủ đô 
2.1.1.1. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên 
Hà Nội là một thành phố cổ kính có tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan hấp dẫn, 
là một thành phố của cây xanh và hồ đẹp, nơi gặp gỡ giữa trời đất, con người và các 
quần thể hoà quyện vào nhau tạo thành một bức tranh duyên dáng. Với những cây xanh 
gắn bó với con người không chỉ làm đẹp cảnh quan mà còn làm cho môi trường thoáng 
mát. Những đường phố cũng có nhiều nét đặc trưng riêng của nó. Đường Trần Hưng 
Đạo với nhiều cây sấu um tùm, đường Điện Biên Phủ có hàng cây đa xanh ngắt, đường 
Ngô Quyền có những cây me cổ thụ. “Mùa Hoa Sữa” có ở đường Nguyễn Du, “Hoàng 
Lan" có ở Phố Phan Đình Phùng. Phố Lý Thường Kiệt, Đường Bà Triệu có "Bằng 
lăng”. Bốn mùa Hà Nội cho ta đầy sắc hương của nhiều loại hoa lá quanh năm xanh tốt. 
Hoa làng Ngọc Hà, Quất Quảng Bá, Hoa đào Nhật Tân… Hà Nội thuộc hai hệ thống 
sông chính là Sông Hồng và Sông Thái Bình giàu phù sa, cung cấp đủ nước tưới tiêu 
cho đồng ruộng, cây trồng. Thành phố có rất nhiều sông nhỏ và hồ đẹp: Cả thảy có tới 
3.600 ha hồ ao với 27 hồ lớn, có thể trở thành nơi có điểm du lịch hấp dẫn. 
Hồ Gươm với Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn ngàn năm in bóng, đền được xây dựng 
trên Đảo Ngọc, với nhiều công trình liên hoàn tinh tế: cổng Nghi Môn, tháp Bút, đài 
Nghiên, cầu Thê Húc, lầu Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba, tháp Rùa và ngôi đền chính. 
"Khen ai khéo hoạ dư đồ Giữa nơi thành thị có hồ xanh trong". 
Hồ đã gắn với huyền thoại lịch sử, chuyện xưa kể lại rằng: Khi xưa vua Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn có tìm được lưỡi kiếm ở dưới sông. Lê Lợi đem kiếm báu dưới cờ kháng chiến suốt mười năm đánh đuổi quân Minh, rồi về đóng đô ở Thăng Long. Một hôm nhà vua dạo thuyền bên hồ Lục Thuỷ (tên Hồ Gươm) gặp một con Rùa, Rùa ngậm lấy lặn biến. Từ đó có tên là “Hồ Gươm” hay còn gọi là “hồ Hoàn Kiếm”. 
Hồ Gươm là trung tâm của thủ đô, là danh thắng lịch sử văn hoá lâu đời với truyền thuyết yêu nước chống giặc ngoại xâm đã gắn trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Hồ có sức lôi cuốn khách du lịch trong nước và quốc tế, là nơi giao lưu giữa nhân dân thủ đô và nhân dân các địa phương khác. 
Trung tâm Hà Nội còn có nhiều hồ khác như: Hồ Bảy Mẫu, hồ Thiền Quang, hồ Trúc Bạch, hồ Giảng Võ… đều là những cảnh quan đẹp và là nơi vui chơi giải trí của nhiều người. 
Đặc biệt tiềm năng vô tận của Hồ Tây còn được biết đến như một điểm du lịch 
đa dạng và đặc sắc không chỉ của Hà Nội mà còn của cả nước. Từ xa xưa, Hồ Tây đã là 
nơi thưởng ngoạn cảnh quan, nơi hành hương, nơi nghỉ dưỡng, vui chơi. Hồ Tây cũng 
là nơi tập trung khá nhiều di tích văn hoá với bề dầy lịch sử ngàn năm và xưa hơn nữa. 
Hồ Tây với diện tích chừng 500 ha nằm trong nội thành Hà Nội, hồ được ví như là lá phổi xanh lớn cho thủ đô, nơi tập trung đông dân cư với hoạt động kinh tế, giao thông dày đặc. Hồ được biết đến như một nhánh lớn bị chia cắt của Sông Hồng. Hồ Tây không chỉ là một không gian xanh mà còn được bao phủ bởi các lớp huyền thoại lịch sử và đượm chất văn hoá dân gian. Truyền thuyết kể lại rằng: 
“Thời nhà Lý, Vua cho đúc đồng đen thành một quả chuông lớn, đúc song, khi đánh thử chuông, có một con Trâu Vàng từ phương Bắc ngỡ là tiếng mẹ đã vùng chạy sang: Trâu chạy tìm, đất sụt thành hồ. Nhà vua phải cho ném chuông xuống hồ, Trâu mới yên. Từ đó, Trâu ở lại đáy Hồ Tây cho nên còn gọi là hồ “Trâu Vàng". 
Hiện nay bao quanh Hồ Tây là trên 60 di tích lịch sử - văn hoá có giá trị nhiều 
mặt. Đặc biệt là các chùa, đình, đền, miếu… trong đó có những di tích là điểm đến đặc 
biệt quan trọng của khách du lịch như chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ, Quán Trấn Vũ … 
Gắn với các di tích ấy là lễ hội dân gian truyền thống có sức hấp dẫn với khách du lịch quốc tế và khách nội địa. Nhiều làng nghề truyền thống cũng tập trung quanh khu vực Hồ Tây nay trở thành phố phường mà vẫn giữ được nghề như nghề đúc đồng Ngũ Xã, giấy ở Yên Thái. 
Hồ Tây còn được đánh giá dưới góc độ khác tiềm năng của du lịch sinh tháidu lịch xanh cùng với du lịch thể thao mặt nước và dưới nước. Hồ Tây được bao quanh bởi nhiều làng cổ Yên Phụ, Quảng An, Nhật Tân, Bưởi, Thuỵ Khê, hệ thống cây xanh quanh 17 km chu vi hồ trong đó có nhiều cây lớn cùng với các làng hoa Nghi Tàm, Nhật Tân, tạo nên một môi trường sinh thái nhân văn hấp dẫn. 
Tiềm năng nước và mặt nước Hồ Tây mở ra khả năng lớn cho sự phát triển các loaị hình du lịch có sức hấp dẫn to lớn và lâu dài. Các hoạt động thể thao như bơi lội, câu cá, du thuyền, lướt vát đều có thể thực hiện được. Công viên Hồ Tây được xây dựng và đưa vào sử dụng đó là các dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, thể thao bơi lội… trong đó có việc khai thác mặt nước ven hồ. Tổ hợp này đã thu hút gần 500 nghìn lượt khách du lịch vào sử dụng các dịch vụ trong những tháng hè. Những ngày thứ bẩy, chủ nhật có tới 7 nghìn lượt khách đến thăm quan. 
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là chất lượng nước và cảnh quan môi sinh ven 
Hồ Tây, tiềm năng lớn và quan trọng của du lịch, cần phải được đảm bảo trong sạch để 
có thể khai thác lâu bền. Nhiều cuộc khảo sát Hồ Tây cho thấy tình trạng nước và rác 
thải trong lòng hồ ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là những nơi có các dịch vụ 
kinh doanh. 
Để Hồ Tây trở thành một trong những tiêu điểm của hoạt động du lịch của Hà Nội 
thì phải có chương trình đầu tư, qui hoạch, cải tạo, bảo tồn và khai thác một cách khoa 
học. 
2.1.1.2. Tiềm năng về di tích lịch sử văn hoá 
Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước, đã biết tôn trọng và 
giữ gìn các giá trị văn hoá, đặc biệt là đã biết sáng tạo và huy động sức mạnh văn hoá 
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trước những thử thách của thời gian và lịch 
sử, của thiên tai và địch hoạ để tồn tại và phát triển. Ông cha ta đã biết sớm khơi nguồn sức mạnh từ chiều sâu của nền văn hoá dân tộc, biết chắt lọc tinh hoa từ nền văn hoá của nhân loại để tạo nên những giá trị văn hoá cao đẹp, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thắm đượm tính nhân văn. 
Từ những giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn hiến đã hình thành nên những di sản văn hoá (di sản văn hoá vật thể và phi vật thể) vô cùng phong phú và đa dạng. 
Ngày nay Hà Nội đã trở thành biểu tượng cho các giá trị văn hoá của dân tộc, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam. Câu thơ quen thuộc của Huỳnh Văn Nghệ, một nhà thơ một vị tướng quân trên đất Nam Bộ: 
“Từ thuở mang gươm đi mở cõi 
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” 
Đã nói thay tấm lòng của nhân dân cả nước đối với Hà Nội, mọi người dân cả nước “đều thương nhớ”, đều mong ước được đến thăm Hà Nội. Du khách nước ngoài đến Việt Nam cũng không thể bỏ qua Hà Nội bởi vì Hà Nội có bề dày lịch sử nghìn năm tồn tại, là thủ đô của nước Việt Nam anh hùng và mến khách. 
Thăng Long - Hà Nội” đã sớm trở thành điểm hội tụ văn hoá của mọi miền đất nước. Lý Công Uẩn đã mang về Thăng Long những giá trị văn hoá của vùng Kinh Bắc vốn là quê hương của mình. Sau thời Lý, văn hoá Thăng Long lại được bổ sung những nhân tố mới kể từ khi triều Lý trị vì ở Thăng Long… Cứ thế, với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, văn hoá Hà Nội đã trở thành bản giao hưởng các giá trị đó đã được nâng cao và có ý nghĩa phổ quát trong mỗi giai đoạn lịch sử [11, tr.12]. 
Nghiên cứu về văn hoá Thăng Long - Hà Nội, một câu hỏi đã đặt ra: gần 1000 năm qua, Hà Nội đã là nơi hội tụ tài hoa và trí tuệ của cả nước, trong suốt chiều dài lịch sử đó, Hà Nội đã để lại những giá trị văn hoá gì cho ngày nay? 
Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá truyền thống, các công trình kiến 
trúc của đình chùa, miếu mạo, những khu phố cổ, những dinh thự, những quần thể kiến 
trúc của nền văn hoá phương Đông vừa tự nhiên, thơ mộng huyền bí, đẹp đẽ. Theo báo 
cáo năm 2002 của Ban quản lý danh thắng và di tích, Hà Nội có khoảng 2.727 di tích lịch sử văn hoá bao gồm 775 ngôi chùa, 216 ngôi đền, 252 ngôi miếu, 679 ngôi đình, 12 lăng, 66 nhà thờ họ, 32 quán am. 
Di sản văn hoá Thăng Long- Hà Nội đa dạng và phong phú, có niên đại từ trước thời Lý đến thời Nguyễn, những viên ngọc quí trong kho tàng văn hoá của dân tộc. Mật độ di tích của Hà Nội thuộc loại cao nhất nước. Những di sản này được sinh ra và nuôi dưỡng bằng đạo lý, tín ngưỡng và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sức sống mãnh liệt, lâu bền. Có khách du lịch nước ngoài đã nêu nhận xét về Hà Nội: 
Với tư cách là khách du lịch mến yêu Hà Nội, bản thân tôi rất mong Hà Nội ngày càng hiện đại, nhưng điều quan trọng hơn cả là việc lưu giữ các di tích lịch sử, những thắng cảnh mạng giá trị nhân văn vốn có từ lâu đời của các bạn. Theo tôi chính những yếu tố ấy mới tạo nên được sức sống, nét đặc trưng rất riêng của Hà Nội [59, tr.32]. 
Trong các di tích kiến trúc cổ, chùa có số lượng lớn nhất. 
Chùa Trấn Quốc là chùa cổ vào loại bậc nhất nước ta được xây dựng từ thời Lý Nam Đế. Chùa ở phía đông Hồ Tây, xây dựng trên hòn đảo xưa có tên gọi là Kim Ngư. Chùa như một hòn đảo được sóng vỗ quanh năm. Ngôi chùa kết hợp được vẻ đẹp cổ kính của di tích lịch sử lâu đời với vẻ đẹp thanh nhã của thắng cảnh ven hồ. Qua nhiều niên đại, chùa vẫn được coi là một danh thắng đẹp nhất kinh thành, đã đi vào lịch sử như một niềm tự hào của văn hoá dân tộc. 
Chùa Kim Liên được xây dựng từ năm 1639, có tên gọi là chùa Sen Vàng, cũng ở Hồ Tây, nằm trên bán đảo Nghi Tàm. Ngôi chùa như nổi trên mặt nước, kiến trúc độc đáo, mỗi nếp nhà có hai tầng mái, cả bốn mặt tường đều xây gạch trần, với ba nếp nhà liên tiếp nhau thành hình chữ tam vừa lộng lẫy vừa trang nghiêm. Chùa với bề dày lịch sử, và những giá trị kiến trúc nghệ thuật lớn được đặt vào vị trí trang trọng trong kho di sản văn hoá, chùa lại nằm trong quần thể của Hồ Tây, một tuyến tham quan du lịch liên khu di tích Quan Thánh - Trấn Quốc - Yên Phụ - Kim Liên. 
Chùa Một Cột được xây dựng năm 1041, chùa nằm ở phố Chùa Một Cột, quận Ba 
Đình, nằm trong quần thể di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chùa Một Cột còn có tên chữ 
Hán là “Nhất Trụ Cột”. Chùa có kiến trúc độc đáo trên một trụ đá trong hồ nước. Chùa Một Cột còn gọi là Toà Đài Sen, vì hình dáng của chùa như là một bông sen nhô lên trên mặt nước. Chùa hình vuông làm bằng gỗ, lợp ngói ta. Nóc chùa có mặt nguyệt bốc lửa, hai đầu rồng chầu về mặt nguyệt. Trong chùa đức phật Quan Âm toạ lạc (có nhiều tay), sơn màu vằng. Phía trên tượng phật là hoành phi “Liên hoa đài” (đài Hoa Sen). Tượng phật Quan Âm cũng ngồi trên một bông sen bằng gỗ sơn son thiếp vàng, ở vị trí cao nhất. Chùa có bốn mái, bốn đầu đao cong được đắp hình đầu rồng. 
Chùa Một Cột được xây ở giữa hồ thả sen. Khách trong nước và quốc tế tới vãn cảnh, cầu nguyện, ngắm sen nở. Trong hồ tương phản với chùa cũng là bông sen lớn, toát lên sự thanh cao của đức phật Quan Âm. 
Ngoài ra Hà Nội còn rất nhiều chùa nổi tiếng về sự tích lịch sử, và kiến trúc độc 
đáo như chùa Lý Quốc Sư, Chùa Hà, chùa Thiên Phúc, chùa Vạn Ngọc, chùa Phúc 
Khánh. 
Ngoài hệ thống chùa còn có các đình, đền thờ phụng các anh hùng dân tộc, các thánh mà trong tiềm thức của dân gian cho là linh thiêng. 
Như đình Giảng Võ thờ bà Lý Châu Nương, một nữ tướng thời Trần phụ trách 
kho lương thực của quân đội và có công đánh giặc, được triều đình phong làm phúc 
thần. 
Đình Linh Đàm thờ Thành Hoàng là Bảo Ninh Vương. Theo truyền thuyết, Bảo Ninh Vương vốn là thuỷ thần học trò của Chu Văn An đã có công làm ra mưa chống hạn cho nhân dân bảy làng quanh vùng. 
Đình Thanh Hà nơi tưởng niệm Trần Lựu, người có công trong lịch sử chống 
giặc ngoại xâm của dân tộc dưới triều Trần ở thế kỷ XIII được nhân dân thờ làm Thành 
Hoàng. 
Đền Ngọc Sơn nằm trong lòng Hồ Gươm lịch sử. Đền là quần thể kiến trúc liên 
hoàn tinh tế giữa Tháp bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, Lầu Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba. 
Từ xưa nơi đây là nơi thưởng ngoạn của các vua chúa. Tháp Bút là một công trình kiến 
trúc đẹp, điểm tô thêm vẻ đẹp của thắng cảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn. Từ Tháp Bút 
đi vào gần phía hồ, trên nền núi Ngọc Sơn xưa, Nguyễn Văn Siêu đã cho xây một Đài 
Nghiên. Khu đền chính Ngọc Sơn được xây dựng ở trung tâm Đảo Ngọc, ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ quanh năm xanh tốt. Có bài thơ khuyết danh được người đời ca tụng nói về Hồ Gươm và Cầu Thê Húc đã in trong Nam Thi hợp tuyển do đốc học Nguyễn Văn Ngọc biên tập. 
Bóng Tháp lô nhô lấp sóng cồn 
Nhịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non 
Nước trong chưa vẩn tăm thầm kiếm 
Đường rộng còn trơ dấu phép môn, 
Kim cổ treo chung tranh thuỷ mặc 
Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn Nghìn thu suy thịnh gương còn đó, 
Coi thuở vầng trăng khuyết lại tròn. 
Ngày nay đền được tu sửa lại càng trở nên đẹp và đầy ý nghĩa nhân bản. Đền được soi mình dưới nước như những hạt ngọc lung linh huyền diệu cho tất cả khách thập phương đến thăm cảnh hồ. 
Đền Hai Bà Trưng, thờ hai nữ anh hùng đầu tiên của lịch sử chống giặc ngoại 
xâm ở nửa đầu thế kỷ I sau công nguyên: Trưng Trắc và Trưng Nhị. Sự ra đời của ngôi 
đền đã được kể lại rằng: Vào đời Lý Anh Tông niên hiệu Đại Đinh Ba (1142) có pho 
tượng đá nổi trên dòng Nhị Hà toả sáng cả một đoạn sông, thuyền bè không dám đến 
gần. Vua Anh Tông biết chuyện bèn sai người ra đón rước nhưng không được. Theo ý 
các bô lão, người ta lấy vải đỏ làm lễ buộc vào tượng rồi rước vào, một pho tượng cao 
lớn, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay chỉ lên trời, một chân quì, một chân ngã 
ra… 
Đền được dựng ở bãi Đồng Nhân, thời nhà Lý do đất lở nên đã di chuyển vào vị 
trí ngày nay. Đền là trung tâm của quần thể di tích với đình thờ Thần Hoàng làng và 
chùa thờ phật. Trước mặt đền có hồ bán nguyệt, cây cối tốt tươi, dưới bóng cây đa cổ 
thụ có tấm bia đá đặt trên lưng Rùa. Trong đền có tượng Hai Bà mặc áo vàng, áo đỏ. 
Hà Nội còn có khu di tích văn hoá mang đậm dấu ấn của lịch sử như khu di tích Cổ Loa, Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu di tích Hoả Lò… 
 Khu di tích Cổ Loa là một vùng thành trì lớn, một dấu tích vật chất về kiến trúc 
quân sự và đô thị cổ cách đây gần hai thiên niên thành Cổ Loa gắn liền với câu chuyện 
An Dương Vương và Nhà nước Âu Lạc. Câu chuyện xây thành đã trở thành huyền thoại. 
Thành cứ ngày xây, đêm đổ nên chỉ khi vua được Thần Kim Qui (Rùa Vàng) cho người 
mách kế diệt Tinh Bạch Kê (Gà Trắng) thì thành mới xây xong. Chiếc Nỏ Thần mà lẫy 
nỏ chính là móng Rùa Vàng, trăm phát trăm trúng đã giúp vua tiêu diệt giặc, giữ được 
thành. 
Cổ Loa là di tích lớn và là di tích duy nhất còn lại đến nay về một thủ phủ lớn. Một thủ phủ mà cha ông ta đã thiết lập trên đồng bằng Bắc bộ, thoạt đầu hẳn là thủ phủ của thủ lĩnh quân sự lớn. Đây là di tích duy nhất về kiến trúc quân sự thời cổ ở nước ta. Trong khu vực thành vẫn còn tượng An Dương Vương bằng đồng. Dấu tích kiến trúc quan trọng còn lại đến nay nằm ở khu vực thành trong, có đền thờ An Dương Vương. Phía trước đền thờ có giếng Ngọc (nơi tự vẫn của Trọng Thuỷ). Cổ Loa nếu được đầu tư phục chế lại thì sẽ là di tích rất đáng tự hào của thủ đô. 
Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng từ thời Lý Thánh Tông (1070) là trường đại học đầu tiên của nước ta. Sau gần ngàn năm tồn tại, trải qua bao nhiêu biến cố, Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày nay vẫn là khu di tích lịch sử văn hoá quan trọng, một thắng cảnh độc đáo. Ngoài giá trị lịch sử, văn hoá, nó còn có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, là công trình kiến trúc tiêu biểu của nho giáo và trải qua nhiều triều đại được trùng tu sửa chữa. Toàn bộ khu vực có diện tích hình chữ nhật, chiều dài 306 mét, chiều rộng 75 mét, đường vào qua cổng Tam Quan, trong sân có “Khuê Văn Các” soi bóng xuống mặt hồ nước nhỏ hình vuông mang tên Thiên Quang Tinh (giếng nước mang ánh sáng của bầu trời) được coi là hình ảnh tiêu biểu của nền văn hoá Việt Nam cũng như của Thăng Long - Hà Nội. Trong số nhiều hiện vật cổ quí hiếm, chứng tích của ngàn năm văn hiến có 82 bia tiến sỹ được dựng từ năm 1484 đến năm 1780. Bia tiến sỹ là những phiến đá đặt trên lưng những con Rùa đá khắc văn bia và ghi rõ họ tên, quê quán của những người thi đỗ. Ngày nay, Văn Miếu Quốc Tử Giám là di tích nổi tiếng được bảo tồn khá nguyên vẹn giữa lòng Hà Nội. Đây không chỉ là di tích, một danh thắng cuốn hút khách vào thăm mà còn là trung tâm hoạt động văn hoá khoa học của thủ đô. 
Hà Nội còn nhiều gò tích như Gò Đống Đa, Ngọc Hồi … gắn với các chiến công anh hùng của cha ông. 
Hà Nội có khu phố cổ 36 phố phường được hình thành từ xa xưa với những tên phố thân quen: Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Đường… 
Các ngôi nhà cổ theo kiểu nhà ống thường làm theo kiểu gian ngoài là chỗ bán hàng, tiếp đó là khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Khu phố cổ Hà Nội là hạt nhân của phần “thị" này bao gồm 76 tuyến phố thuộc phạm vi mười phường trên địa bàn quận Hoàn Kiếm. 
Trong phạm vi phố cổ đã từng có trên một trăm di tích tôn giáo tín ngưỡng, là nơi thờ tự của các làng, thôn, phường cũ là nơi thờ tổ nghề, thờ thần Hoàng Hà Nội gốc như: Đền Bạc Mã, đình Thanh Hà, … 
Trải qua những biến động của thời gian, của lịch sử khu phố cổ có nhiều biến dạng, song bóng dáng của thời xưa vẫn còn lưu lại trên những khu phố cổ kính, cái không gian văn hoá đậm đà màu sắc cổ truyền của vẻ đẹp đô thị phản ánh gốc gác của dân cư kinh thành… Các loại mứt, ô mai và các món ăn đặc biệt hương vị “Tràng An” đã thu hút trí tuệ, tình cảm của các nhà văn, nhà nghiên cứu đã nhận xét: 
“Những nhà ống nhỏ bé lại xen với những mái chùa cong mềm mại hoà trong 
không gian cây xanh với vẻ đẹp yêu kiều. Một nét độc đáo nữa của Hà Nội mà ở thủ đô 
nhiều nước không có đó là những phố nghề, làng nghề như làng giấy, làng hoa, làng 
gốm, Hàng Bạc, Hàng Đường… mà chúng ta đang và sẽ giữ gìn và phát huy để trở 
thành những tuyến du lịch tham quan hướng dẫn du khách. Và với sự đầu tư của Nhà 
nước, sự tài trợ của quốc tế và trách nhiệm của người dân, khu phố cổ hy vọng sẽ được 
bảo tồn, tôn tạo trở thành khu sầm uất sẽ được phát triển theo hướng phố cổ trong thời 
đại mới”. 
Hàng chục di tích lịch sử cách mạng với những cơ sở cách mạng thời kỳ 1929 -
1930, 1936 - 1939, nhà tù Hoả Lò, nơi giam cầm các chiến sỹ yêu nước và cách mạng. Ngôi nhà 48 Hàng Ngang - nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, khu di tích lịch sử Ba đình nơi sống, làm việc và yên nghỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. 
Hệ thống các bảo tàng ở Hà Nội (Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Dân tộc học…) cũng là những địa điểm lý tưởng cho khách du lịch đến thăm quan, thưởng ngoạn ở thủ đô. 
2.1.2. Các hoạt động văn hoá phục vụ cho phát triển du lịch 
2.1.2.1. Hoạt động của các lễ hội 
Thăng Long - Hà Nội là mảnh đất có rất nhiều lễ hội. Chủ thể sáng tạo của các lễ hội cổ truyền đã tái tạo lại lịch sử, viết lại lịch sử dân tộc, quê hương bằng các lễ hội cổ truyền. Nhà nghiên cúu Nguyễn Vinh Phúc cho rằng: “đậm sắc màu lịch sử” là nét đặc trưng của lễ hội Việt Nam nói chung, Thăng Long- Hà Nội nói riêng. Với tấm lòng thành kính “nhớ về cội nguồn dân tộc”, lễ hội bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định. Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau thì có hội làng khác nhau. Mặt khác lễ hội cũng mang tính tộc người rõ nét, các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau. 
Những lễ hội tiêu biểu hàng năm của Hà Nội: * Lễ 
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức, 
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
1 Lễ hội Cổ Loa - 6-1 Thờ: Thục phán Có  tế  lễ  nghênh  rước  -  Tục
đền Cổ Đông Anh An Dương rước “vua sống”
Loa Vương (lập nước
Âu Lạc) - Đấu vật, chơi cờ tướng
2 Lễ hội Xuân Đỉnh 6-1 Thờ: Thánh Tế lễ và rước kiệu Thánh
đền Sóc - Từ Liêm Gióng (tượng - Tục chơi cờ người và chọi
cao 4 mét)
3 Lễ hội Sóc Sơn - 6 đến 8-1 Thờ: Thánh Tế lễ và rước xách linh đình
đền Sóc Xuân Đỉnh Gióng và Thổ Lễ  Dâng  hương  và  lễ  Mộc
Sơn thần dục
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức, 
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
52  xã  rước  hoa  tre (nhuộm 
màu)  dâng  cũng  xong  tung cướp lấy may 
Lễ Chém tướng giặc Ân 
Chọi gà, cờ tướng, đu, hát ca 
trù 
4 Lễ hội Đồng 6-2 Thờ: Hai Bà Tổ chức tế lễ trọng thể
đèn Nhân - Trưng (có 2 pho Lễ  Dâng  hương   và  Rước
Đồng Quận Hai tượng quý của tượng Hai Bà
Nhân Bà Trưng Hai Bà) Có  điệu  múa  đèn  (“Con  đĩ
đánh bồng“) và nhiều trò chơi
dân gian
5 Lễ hội Thôn 6 đến 10- Thờ: Đại Thánh Tổ  chức  tế  lễ  dâng  hương
đền Ngọc trì - 2 Trấn Vũ (tượng trọng thể
Trấn Vũ Thạch Bàn bằng đồng đen Có tục kéo co ngồi rất cổ và
- Gia Lâm cao 3,8 mét nặngnhiều trò vui dân gian
4 tấn)
6 Lễ hội Thủ Lệ - 10-2 Thờ: Hoàng Tử Tổ chức tế lễ và rước xách.
đền Voi Câù Giấy Linh Lang (con Dâng hương tưởng niệm. Có
Phục trai vua Lý Thái tục thi nâng hòn đá lớn (tảng
Tông) có nhiều đá) và chơi cờ tướng…
công đánh Tống
7 Lễ hội Hàng 15-2 và Thờ: Thần Bạch Tổ  chức  tế  lễ  trọng  thể  cầu
đền Buồm - 15-8 mã (tục thờ thần mưa (15-2)   và   cầu   tạnh
Bạch Hoàn mặt trời) (15-8)
 Không Thời
Thứ Tên lễ gian, địa gian
tự hội điểm, địa (theo âm
danh lịch)
Kiếm
8 Lễ (đền) Quảng An 3 đến 7-3
Phủ Tây - Tây Hồ
Hồ
9 Lễ hội Thuỵ 4-4
đền Khuê -
Đồng Phường
Cỏ Bưởi
10 Lễ hội Làng Phù 9-4
đền Phù Đổng -Xã
Đổng Phù Đổng
- Gia Lâm
11 Lễ hội Lệ Chi- 8-4
 Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức,
thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
Thánh trong
và các trò chơi dân gian
lễ hội
Thờ Thần Long Lễ  Nghìn  xuân,  Tiến  Ngưu
đỗ (thần Thành đánh trâu, Cầu mùa.
Hoàng của kinh Lễ Ăn thề
đô Thăng Long)
Thờ Liễu Hạnh, Tế  lễ  dâng  hương,  cúng  bái
Thánh Mẫu và nhân   ngày   giỗ   Mẫu   Liễu
tam toà Thánh Hạnh
Mẫu Có lên đồng hầu bóng và thi
hát chầu văn
Thờ: Thần Đồng Tế lễ trọng thể dâng hương.
Cổ (Thần Trống Lễ Tuyên thệ
Đồng) Tổ chức hội thể của các vua
quan thời phong kiến
Đây là quốc lễ theo nghi thức
triều đình xưa do vua chủ trì
Thờ: Thánh Tổ chức tế lễ trọng thể
Gióng + Đức Có rước kiệu Thánh
Thánh Mẫu (mẹ Lễ rước nước
Thánh Gióng) Tục mặt trời cổ xưa
Trò  diễn  trận  “Thánh  Gióng
đánh giặc Ân”
Có  nhiều  trò  chơi  dân  gian:
đấu  vật,  cờ  người,  hát chèo,
quan họ
Thờ: Thánh   Có  tế  lễ  và  rước  xách  linh 
 Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức, 
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
đền Chí Gia Lâm Gióng + Thờ đình. Tổ chức hội trận của hai
Nam Hiển Công (là phe trai đình (đóng quân ta và
tướng thời Hùng quân giặc Ân)
Vương thứ 6) Thi vật và đấu gậy.
*lễ hội chùa:
Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
1 Lễ hội Phố Huế, 6 đến 8-1 - Lễ dâng hương, tụng
chùa Quận Hai Bà kinh niệm Phật. Tế lễ
Vua Trưng Thờ: Tam vua cờ.
bảo chư -  Trò chơi cờ  người,
Phật Thờ: Đế cờ tướng, cờ bỏi, chọi
Thích (vua gà, múa sư tử.
cờ) - Ai được giải nhất  3
năm  liền  được  khắc
tên vào bia đá chùa.
2 Lễ hội Xã Ninh Hiệp 4 đến 6-2 Thờ tam bảo -  Lễ  cầu  kinh  niệm
chùa chư Phật Phật.  Tế  lễ  rước  Bà
Nành - Thờ Phật Nành, kéo ngựa và lễ
(Hội Mẫu Man lục  cúng.  Tục  tế  lễ
Đại) Nương Trần Hưng Đạo
- Bà Nành - -  Trò  tục:  Nâng  cây 
 Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
Pháp Vân Phan (trò   múa   tín
- Thờ Trần ngưỡng phồn thực).
Hưng Đạo
3 Lễ hội Phường Láng 7-3 -  Lễ  tụng  kinh  niệm
chùa Trung, Đống Thờ Đức Phật - Lễ dâng hương
Láng Đa Phật cúng  Thánh  thần  đồ
- Thờ Thiền chay
sư Từ Đạo - Tế lễ, lễ tắm tượng
Hạnh (Thánh -   Rước   xách   kiệu
Từ) Thánh  lớn -  Lễ  cầu
- Vua Lý đảo, cầu mưa
Thần Tông. -  Nhiều  trò chơi  dân
gian
4 Lễ hội Làng Nhót, 15-3 Lễ   cầu   kinh   niệm
chùa Đông Mỹ, Phật
Đông Thanh Trì - Tế lễ dâng hương và
Phù Thờ đức Phật đồ chay
Liệt và hai công - Lễ kể hạnh, cầu lộc
(Chùa chúa (con gái cầu phúc
Nhót vua Lý
tên chữ: Thánh Tông)
Hưng
Long
tự)
5 Lễ hội Ngõ Văn 24 đến Thờ Phật -  Có  cầu  kinh  niệm
 Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
chùa Chương, Tôn 25-4 - Thờ vua Lê Phật
Dục Đức Thắng, Thái Tổ và -   Lễ   dâng   hương,
Khánh Đống Đa vua Lê Thần cúng tế  các  vị  thờ  ở
Tông đây theo nghi thức cổ
- Tượng truyền
Nguyễn Trãi - Có nhiều trò vui dân
và bà gian
Nguyễn Thị
Lộ
* Lễ hội Đình:
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
Làng Sài Thành Hoàng - Tế thần
4-1
Lễ hội đình Đồng, Gia Linh Lang Đại - Động thổ
1 (hàng
Sài Đồng Thuỵ, Gia Vương -  Trình  nghề (chủ
tháng)
Lâm (Thời Lý) yếu là nghề nông)
- Có tế lễ theo nghi
Thờ: Bà Lê
thức cổ truyền
Làng Mai Trân
Từ 4 đến -  Trò  tục  đấu  vật
Lễ hội đình Động, Q. - Nguyễn Tam
2 6 tháng (diễn   lại   sự   tích
Mai Động Hai Bà Chinh (Tổ sư
hàng năm luyện  quân  sỹ,  thời
Trưng lò vật làng Mai
kỳ khởi nghĩa Hai Bà
Động)
Trưng  của  tổ  sư  lò 
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
vật Mai Động)
- Tế lễ dâng hương ở
đình Khương
Thượng
Lễ hội đình Khương Vua Quang
5 tháng 1 -  Cầu  siêu  ở  chùa
3 Khương Thượng, Trung -
hàng năm Đông Quang
Thượng Đống đa Nguyễn Huệ
- Rước rồng lửa, múa
lân,   chọi   gà,   cờ
tướng
-   Dâng   hương,   tế
Làng
thần
Hoàng Mai, Trần Khát
Lễ hội đình 6 tháng 1 - Rước kiệu thần
4 Hoàng Văn Chân (tướng
Hoàng Mai hàng năm -  Đấu  vật,  đấu  gậy,
Thụ, Q. Hai nhà Trần)
chọi  gà,  cờ  người.
Bà Trưng
Thả diều
Phạm Công - Tế lễ
Làng Thị Tây (thời - Rước kiệu Thần từ
Lễ hội đình Cấm, Xuân Hùng Vương Thị  Cấm  đến  Hoè
5 6 đến 8-1
Thị Cấm Phương, Từ 18) và công Thị
Liêm chúa Hoa - Thổi cơm thi
Dung 
- Dâng hương, tế lễ
Ông Dực, ông
Kẻ Rỗ, xã -  Hát  cửa  đình,  hát
Lễ hội đình Minh, Dinh Dự
6 Liên Hà, 6-15 thi (ở Lỗ Khê còn có
Lỗ Khê và Mãn Hoa
Đông Anh lễ tế Tổ sư ca công
Đường 
vào ngày  6-4 và hội 
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
thu vào 10- 8)
-  Tế  lễ -  lấy  nước,
Làng Gạ,
Lễ hội đình Từ 9 đến Bà chúa Tằm rước nước
7 Phú gia, Từ
Gạ 11-1 Quỳnh Hoa - Đấu võ, múa sư tử,
Liêm 
hát ả đào, diễn chèo 
- Nhập tịch 
- Tế lễ mừng Phùng Hưng lên ngôi 
Làng Triều - Rước hoàng bào từ
Bố Cái Đại
Lễ hội đình Khúc,Tân Từ 9 đến đình Sắc về đình Đaị
8 Vương (Vua
Triều Khúc Triều, 12-1 - Múa rồng, múa lân,
Phùng Hưng)
Thanh Trì múa   con   đĩ   đánh
bồng. Chạy cờ duyệt
quân,  vật  giải,  chơi
đu, hát chèo
Thôn Cự - Tế lễ - dâng hương
Chính, 12 -1, Lã Đại Liêu -  Rước  kiệu  thần -
Lễ hội đình 
9 Nhân 12-2, (Tướng của các  trò  diễn  và  trò
Cự Chính 
Chính, 18-10 Tản Viên) chơi dân gian
Thanh Xuân
- Dânghương
Làng Bạch mã Đại
- Tế lễ
Lễ hội đình Khoan Tế, Vương và
10 10-1 - Thi ném pháo theo
Khoan Tế Đa Tốn, Phùng Kha Đại
kiểu  riêng  của  địa
Gia Lâm Vương
phương
11 Lễ hội đình Làng Vính 8-2 Nàng Tý quê ở - Dâng hương, tế lễ
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
Vĩnh Ninh Ninh, Vĩnh Láng (là tướng - Đánh cờ, đấu vật
Quỳnh, của Hai Bà - Vào ngày hội, mọi
Thanh trì Trưng) người đều     thắp
- Ông Rắn hương tại nhà mình
- Ông Đất
- Tế lễ
Linh Lang Đại - Rước kiệu
Lễ hội đình Yên Phụ, 8 đến
12 Vương (Hoàng -  Chọi  gà,  đánh  cờ
Yên Phụ Tây Hồ 10-2
tử đời Trần) tướng, tham quan di 
tích cổ
- Tế lễ
- Lã Liệt + -  Các  dòng  họ  tới
5 làng Mọc,
Hùng Lãnh đình  dâng hương  và
Lế hội đình Nhân
8 đến Công + ả Đại lễ phẩm
13 Mọc Quan Chính,
11-2 Vương (Đức -  rước  kiệu  qua 5
Nhân Thanh
Bà) + Đoàn làng (cả đi lẫn về)
Xuân 
Thượng - Múa rồng, múa sư tử
- Cờ tướng, hát chèo
- Tế   thần,   dâng
hương
Làng Vẽ, - Độc Cước + - Lễ tạ trời đất
Lễ hội đình 9 đến
14 Đông Ngạc, Lê Khôi + Thổ - Rước nước
Vẽ 11-2
Từ Liêm thần bản địa - Đại tế
- Lễ tạ trời đất
- Đấu vật, cờ tướng
15 Lễ hội đình Làng Giàn, 9 đến Lý Phục Man - Tế lễ. Rước nước
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
Giàn Xuân Đỉnh, 11-2 (danh tướng -  Rước  kiệu  Ông  +
Từ Liêm thời Tiền Lý) kiệu bà sang chùa rồi
tới đình
- Cờ người, vật, đấu
võ, chọi gà
Lý Thần Tông - Tễ lễ
Làng Cót, + Bạch Hạc + - Rước bài vị từ miếu
Lế hội đình 9 đến
16 Yên Hoà, Cao Sơn Đại ra đình
Cót 11-2
Từ Liêm Vương + Diêm - Chọi gà, cờ tướng
La Đại vương 
- Dâng hương
Đông Chinh
- Đại tế
Vương + Phu
Kẻ Noi, Cổ - Cờ người
Lễ hội đình 9 đến Nhân Đông
17 Nhuế, Từ - Cúng cỗ chay, cơm
Cổ Nhuế 11-2 Chinh + Tạ
Liêm nắm,  muối  vừng  vì
Minh Hiền (chị 
phu  nhân  của  Ngài
gái)
có một thời đi tu
Hai vợ chồng - Tế thần
Vũ Phục có -  Rước kiệu từ đình
công cứu vua An  Thái  sang  đền
Làng An Lý Nhân Tông Đồng Cổ
Lễ hội đình
18 Thái, Bưởi, 10-2 khỏi đau mắt - Hát ca trù
An Thái
Tây Hồ (theo lời Thần, - Ngâm thơ ở đình
hai vợ chồng - Diễn chèo  + tuồng
đều nhảy ở khu cầu san
xuống sông Tô - Đu tiên, cờ tướng,
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
Lịch tự tử) chọi gà
- Thi cây cảnh
Hoá Quang - Tế lễ trọng thị
Tiên Sơn Đại -   Rước   xách   kiệu
Thánh thần
Làng Vẽ,
Lễ hội đình 10 đến - Lê Khôi (con - Cờ bỏi, chọi gà
19 Đông Ngạc,
Đông Ngạc 12-2 vua Lê Thái
Từ Liêm 
tổ) 
- Thần Bản 
Thổ 
- Phan Tây - Tế lễ
Làng Thị
Nhạc (Bộ - Rước kiệu Thần
Lễ hội đình Cấm, Vân
20 12-2 tướng của vua - Thi nấu cơm và dệt
Cấm Canh, Từ
Hùng Duệ vải
Liêm
Vương 18) 
- Tế lễ, dâng hương
Quảng Bá, Bố Cái Đại
Lễ hội đình 12-2, - Rước kiệu Thần
21 Quảng An, Vương Phùng
Quảng Bá 10-8 -  Có  nhiều  trò  tục
Tây Hồ Hưng
dân gian
- Cá Lễ và - Tế lễ
Cống Lễ (hai - Dâng hương
Làng Hồ
anh em sinh - Diễn trò bơi cạn mô
Lế hội đình Khẩu,
22 14-2 đôi có công phỏng cảnh Cá Lễ đi
Cá Lễ Bưởi, Tây
diệt giặc Bạch tìm vợ chết đưối (trò
Hồ
Hạc được này do 36 thanh niên
phong Tướng đảm nhiệm)
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
công vệ quốc 
và Tướng quân 
Dực Thánh) 
- Dâng hương, tế lễ -   Rước   Thánh   từ miếu về đình 
-   Đua   thuyền   dạo
- Đức Thánh
Làng Đăm, chơi trình Thánh
Lễ hội đình 9 đến Tam giang +
23 Tây Tựu, -   Rước   Thánh   ra
Đăm 12-3 Bạch Hạc Tam
Từ Liêm Thuỷ đình dự hội
Giang 
- Đua thuyền, đốt pháo
-  Diến  chèo +  hội
đua thuyền làng Đăm
rất qui mô, nổi tiếng
- Quách Lãng - Tế lễ - dâng hương
- Đinh Bạch -  Rước  kiệu  các  vị
Làng Đông
Lễ hội đình Nương thành Hoàng làng
Ba, Thượng 10 đến
24 Thượng - Đinh Tĩnh -  Thi  bơi  trải,  đua
cát, Từ 12-3
Cát Nương (các thuyền
Liêm 
tướng của Hai - Tục đánh cờ người
Bà Trưng)
Diêm La Đại - Tế lễ và rước xách
Làng Mai
Lễ hội đình 10 đến Vương (tướng rất linh đình
25 Dịch, Từ
Mai Dịch 12-3 của Lý Nam - Có các trò chơi dân
Liêm 
Đế 544-548) gian
26 Lế hội đình Làng Lệ 23-3 - Hoàng Phúc - Tế lễ
 Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh thờ
(lịch âm) dân gian
Lệ Mật Mật, Việt Trung (còn gọi - Dâng cá chép cần
Hưng, Gia là Hoàng Lệ - Rước nước
Lâm Mật) có công - Rước kiệu
diệt thuỷ quái - Rước cỗ của dân 13
cứu công chúa trại phía nam Nhị Hà
nhà Lý và khai - Múa rắn
khẩn 13 trại ở
phía Tây
Thăng Long
- Tế lễ trọng thị
Làng
-  Rước  kiệu  Thánh
Chèm,
Lễ hội đình lên  lên  làng  Hoàng
27 Thuỵ 15-5 Lý Ông Trọng
Chèm Xá giao hiếu
Phương, Từ 
- Có các trò vui dân
Liêm
gian trong 3 ngày hội 
Giá trị của lễ hội mà du khách được cảm nhận chính là gía trị cộng cảm và cộng 
mệnh. Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng. Vì thế đây là một sinh hoạt tập thể long trọng thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người. Các nghi thức của lễ hội mà mọi người phải tuân theo tạo nên niềm cộng cảm với tất cả cộng đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng, cảm thấy có khả năng vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với sức mạnh lớn hơn. 
Lễ hội còn như một loại bảo tàng văn hoá- bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị 
văn hoá, các sinh hoạt văn hoá. Đó có thể là các trò chơi tín ngường dân gian, các hình 
thức diễn xướng dân gian… Du khách có thể tìm hiểu tín ngưỡng Việt Nam có đặc 
điểm là sự dung hợp giữa tín ngưỡng Phật giáo, Đạo giáo, với tín ngưỡng dân gian. Đặc 
điểm này càng được thể hiện rõ trên đất Thăng Long. Nguyên nhân sâu sa của sự dung hợp này là truyền thống yêu thương giúp đỡ nhau trong nhân dân, là tinh thần khoan dung của dân tộc và thái độ không thành kiến với những người khác mình về tư tưởng, quan điểm cũng như về tín ngưỡng. 
Thăng Long có đền thờ thần Núi (Tản Viên), thần Sông (Tô Lịch). Có “Thăng Long tứ trấn”, bốn ngôi đền các vị thần trấn giữ bốn phía đông, tây, nam, bắc. Vị anh hùng Trần Hưng Đạo được suy tôn thành Đức Thánh Trần được thờ ở nhiều nơi. Vị công chúa huyền thoại Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu và người “Mẹ bất tử”, một trong “tứ bất tử” của Việt Nam, cũng có hàng trăm nơi thờ cúng ở Thăng Long và ở cả nước nhưng nổi tiếng nhất là ở Phủ Tây Hồ. 
Như vậy lễ hội truyền thống gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ 
nước của dân tộc.   Lễ hội biểu hiện sức sáng tạo bền bỉ, lớn lao của nhân dân trải qua 
hàng thiên niên kỷ, qua nhiều loại hình lễ hội mang tính toàn quốc hoặc tính  địa 
phương. 
Lễ hội vừa được kế thừa đồng thời vừa mang được cải biến qua từng thế hệ. Lễ 
hội là những sinh hoạt của cộng đồng, mang tính dân tộc và được vận động trong lịch 
sử. Các qui luật vận động của nó nằm trong các qui luật gía trị của quá trình xã hội hoá. 
Sinh hoạt lễ hội đã mang đến cho người thưởng thức những giá trị đạo đức, các 
phong tục, tập quán, các điều kiêng kỵ… Nó gắn bó với các tình cảm, thị hiếu, đức tin 
của dân tộc. Có thể nói gía trị của các lễ hội được thể hiện trong nhiều mặt: Nghi lễ, y 
phục, đồ thờ, kiến trúc và trang trí, biểu diễn nghệ thuật, lễ vật dâng cúng và các trò 
chơi dân gian… đặc biệt cần phải nói đến những con người trong lễ hội, nhân vật lễ hội 
chính là chủ thể sáng tạo và vận hành lễ hội, là động cơ, nguồn gốc sinh ra và nuôi 
dưỡng lễ hội. 
Sự hấp dẫn của lễ hội truyền thống trước hết là ý nghĩa lịch sử, văn hoá, chính trị cũng như ý nghĩa cộng đồng xã hội rộng lớn. 
Chẳng hạn khu di tích Phù Đổng là nơi thờ vị anh hùng có công đánh giặc Ân từ 
thời Hùng Vương thứ sáu. Sự tích làng Gióng thuộc loại hàng đầu trong kho huyền 
thoại và lịch sử văn hoá Việt Nam. Lễ hội diễn ra ngày mùng 9 tháng tư hàng năm. Câu 
chuyện Thánh Gióng là tư liệu thần thoại ngợi ca cuộc đấu tranh thần thánh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam thời cổ. Người anh hùng làng Gióng là hình ảnh sáng ngời của dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, Gióng cùng toàn dân đánh giặc, Gióng nhằm nơi giặc Ân đóng mà xông tới quất roi sắt vào thân giặc, vút tre ngà xuống đầu giặc và đánh thắng giặc xong bay về Trời. 
Như vậy trong sự nghiệp bảo vệ đất nước cũng là những trang sáng ngời của lịch sử gợi cho du khách một ý niệm cao cả thiêng liêng về dân tộc, về các bậc anh hùng trong nhân dân. Qua lễ hội cái đẹp của tinh thần đó đã được cụ thể hoá bằng các cuộc biểu diễn văn hoá,văn nghệ, võ thuật. Xem trận đánh của Gióng trong lễ hội ta sẽ thấy được tính thẩm mỹ dân tộc của lễ hội được tái tạo lại bản chất anh hùng của dân tộc. Những trò vui chơi của lễ hội không chỉ để giải trí, thư giãn mà còn là những trò vui chơi mang nội dung lịch sử văn hoá sâu sắc. 
Lễ hội truyền thống còn mang lại sự bình đẳng giữa con người với con người, giữa nam và nữ. Trong các cuộc rước kiệu ta thấy từng đoàn người ăn mặc màu sắc sặc sỡ thu hút sự chiêm ngưỡng của bao người. Đó là những bức tranh màu sắc và sự thanh lịch đậm đà bản sắc dân tộc từ cách ăn mặc đến cách đi đứng, cách ứng xử… 
Như vậy tính dân tộc quán triệt trong suốt quá trình diễn ra các lễ hội là một động lực bảo tồn và phát huy các lễ hội trong đời sống. Tiếp xúc với cái hay cái đẹp có tính chất dân dã và tính văn hoá mang trí tuệ cao đánh dấu một nền văn minh xóm làng do cha ông tạo lập và truyền lại. Nhân dân đã tự biên, tự diễn nghệ thuật trong niềm vui sáng tạo, biểu diễn rõ ý thức và tinh thần thẩm mỹ trong lễ hội. 
Lễ hội truyền thống thường gắn liền với danh lam thắng cảnh và các di tích lịch 
sử, văn hoá. Nói đến lễ hội ở đền Quán Thánh là nhắc đến thờ thần Trấn Vũ. Một hình 
tượng kết hợp giữa nhân vật thần thoại Việt Nam. Ông thánh đã giúp An Dương Vương 
trừ ma trong khi xây thành Cổ Loa và nhân vật thần thoại Trung Quốc ông Thánh coi giữ 
phương Bắc. Đền Quán Thánh đẹp về nhiều mặt, ở đây hình thức và nội dung lịch sử của 
di tích hoà quyện vào nhau, gắn liền với khung cảnh đẹp của Hồ Tây với vần thơ nổi 
tiếng: 
Gió đưa cành trúc la đà 
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ xương 
 Mịt mù khói toả cành sương 
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”. 
ở đây mỗi đình chùa và cảnh quan thiên nhiên bao quanh là một bảo tàng nhỏ của lễ hội, trong đó có các di tích và một số di vật nhất định. Về mặt lễ hội, du lịch lễ hội sẽ đem lại một số ngân quĩ không nhỏ để tôn tạo trùng tu các di tích, các quần thể kiến trúc và xây dựng các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nơi tham quan… 
Muốn ngày càng thu hút khách đến chiêm ngưỡng thì phải quan tâm bảo vệ các giá trị dân tộc của lễ hội truyền thống, phải coi trọng công tác bảo tồn các di tích và di vật liên quan đến lễ hội, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên. 
Bên cạnh đó cần phải đào tạo được đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có kiến thức và trình độ văn hoá lễ hội… 
2.1.2.2. Hoạt động của các làng nghề truyền thống 
Làng nghề truyền thống là nơi một cụm dân cư sinh sống và sản xuất các sản 
phẩm thủ công mỹ nghệ cổ truyền. Họ tạo thành làng nghề hay phường hội, một cộng 
đồng nhỏ về kinh tế và văn hoá. Những phong tục, tập quán, đền thờ ông tổ nghề, 
những bí quyết ngành nghề thủ công truyền thống làm nên nét riêng trong văn hoá của 
mỗi làng nghề. Các sản phẩm mà các làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh các 
giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc. Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam thông 
qua các mặt hàng thủ công truyền thống. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện khá đậm 
nét qua các hoạ tiết chạm trổ mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Những sản phẩm của 
làng nghề với những nét riêng biệt độc đáo là dấu ấn di sản văn hoá quý báu mà ông 
cha ta để lại cho thế hệ mai sau. Vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 
nếu không có ý thức bảo tồn nghề thủ công mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc thì 
những nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một. Việc duy trì các ngành nghề truyền thống, 
bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc trong các sản phẩm thủ công truyền thống là rất cần 
thiết vì các sản phẩm thủ công truyền thống có các giá trị văn hoá đặc biệt, nó mang 
trong mình bản sắc văn hoá dân tộc, nó là những thông điệp bền vững của văn hoá dân 
tộc được lưu truyền lại cho các thế hệ sau và du khách quốc tế. Các làng nghề truyền thống ở Thăng Long - Hà Nội là nơi lưu giữ những giá trị 
văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc. Được hình thành và tồn tại trong lịch sử của 
dân tộc, của vùng văn hoá Bắc Bộ và tiểu vùng văn hoá Thăng Long, các làng nghề này 
đã có một quá trình tồn tại lâu dài như làng nghề giấy ở Bưởi, ở Yên Hoà, làng đúc 
đồng Ngũ Xã, làng mây tre Liên Ngạc, làng gỗ Thiết ứng - Vân Hà - Đông Anh, đặc 
biệt là làng gốm sứ Bát Tràng... Sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống 
hôm nay gắn liền với sự phát triển của hoạt động du lịch hiện tại và tương lai. Những 
sản phẩm được tạo ra bằng những bàn tay khéo léo của cư dân nơi đâyđược khách hàng 
ưa chuộng trong đó lực lượng đáng kể là khách du lịch trong nước và quốc tế. Đối với 
làng nghề, sự hấp dẫn của nó với khách du lịch ở chỗ nó thể hiện và bảo đảm những giá 
trị văn hoá dân tộc rất đặc sắc và độc đáo: Các lọ hoa, bình thậm chí cả những con vật 
trong huyền thoại được tạo dáng bởi chất men với hoa văn tinh tế khiến du khách ngạc 
nhiên và thán phục. Mây tre được đan bởi những người thợ cần mẫn chăm chỉ, sản 
phẩm là những chiếc mũ, nón, túi, hộp, bàn ghế… vừa dân dã vừa độc đáo của làng 
nghề Liên Ngạc vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. 
Bên cạnh làng nghề có những ngôi đình, đền hay nhà thờ tổ nghề vào đầu năm du khách đến tham quan còn được chứng kiến và tham dự những lễ hội liên quan đến các vị tổ của nghề truyền thống ở các làng quê. Không khí ngày hội thật náo nhiệt, giàu tính nghệ thuật, du khách có thể tìm hiểu được cội nguồn của những nghề thủ công truyền thống, tìm hiểu bản sắc văn hoá của vùng cũng chính là bản sắc văn hoá Việt Nam một cách sinh động. Đồng thời du khách có cơ hội kinh doanh những sản phẩm ưa chuộng ra nước ngoài, đó cũng là một cách tạo đà cho sản phẩm trở thành hàng hoá nhiều hơn, làng nghề phát triển hơn. 
Nhiều khách du lịch nước ngoài khi nhận xét về một số sản phẩm phục vụ kinh 
doanh đã đánh giá cao giá trị văn hoá của sản phẩm truyền thống bởi chất liệu hoàn 
toàn bằng nguyên liệu trong nước với: đất, mây, tre, song, gỗ… là biểu trưng cho các di 
sản văn hoá và họ coi đây là niềm thích thú trong du lịch. Mặt khác đến với những làng 
nghề Hà Nội, du khách đã được tiếp xúc với môi trường văn hoá của làng nghề từ đường đi lối lại, những hàng cây trái tốt tươi, lối ứng xử văn hoá xóm làng mộc mạc chân quê mang đậm nét Việt Nam. 
Thăng Long Hà Nội có một nguồn tài sản văn hoá rất đa dạng và phong phú. Trong những năm qua, vấn đề phát triển du lịch văn hoá ở thủ đô và việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nói chung, sắc thái văn hoá nói riêng trong hoạt động du lịch ở Hà Nội đã bước đầu được quan tâm. 
Quan hệ giữa du lịch và văn hoá ngày càng gắn bó hơn. Sự phối hợp với nhau ngày càng chặt chẽ, đồng bộ và thiết thực nhằm quảng bá du lịch thông qua các hoạt động văn hoá như triển lãm, hội thảo, hội chợ, liên hoan du lịch quốc tế. Rất nhiều các lễ hội văn hoá đã được tổ chức nhân kỷ niệm  990 năm ThăngLong  - Hà Nội. Tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác trong quan hệ với tài nguyên du lịch tự nhiên để hình thành các tuyến du lịch sinh thái văn hoá hấp dẫn và trở thành sản phẩm du lịch bước đầu mang rõ nét tính đặc thù như tuyến du lịch phố cổ, tuyến du lịch dọc sông Hồng, các làng nghề truyền thống… 
Những năm gần đây do đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước, nhiều lễ hội 
văn hoá truyền thống được phục hồi. Hàng ngàn các di tích lịch sử văn hoá và các ngôi 
đền, chùa, đình… ở Hà Nội được trùng tu, sửa chữa và xây dựng lại. Đó là điều kiện 
thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch. Nội dung và hình thức của các lễ hội được quan 
tâm tổ chức phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại và nhu cầu của khách trong 
và ngoài nước. Thực tế cho thấy trong lễ hội truyền thống không chỉ phục hồi các nghi 
lễ, trò cổ truyền mà còn có sự đan xen một số nghi thức mới một cách hài hoà. Hơn nữa 
việc tổ chức lễ hội cũng có tác dụng làm cho các di tích lịch sử văn hoá được bảo vệ, sửa 
chữa, tôn tạo kịp thời, tránh được sự hoang phế hoặc xuống cấp. Việc tổ chức lễ hội thu 
hút được nhiều khách thập phương, họ là những người tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc 
công đức để tôn tạo, bảo vệ di tích và các chi phí cho lễ hội được phong phú hơn. 
Lễ hội truyền thống giữ vai trò làm cầu nối từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, 
giữa cái linh thiêng cao cả với cái đời thường dân dã. Lễ hội đã làm cân bằng về mặt tâm 
lý, tâm linh cho mọi tầng lớp nhân dân, lễ hội góp phần vào việc giáo dục lối sống, phong 
tục, tập quán tốt đẹp của truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, hướng con người vươn tới chân - thiện - mỹ góp phần làm cân bằng môi trường sinh thái và môi trường văn hoá xã hội cho các cộng đồng từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược… tạo điều kiện phát triển cả về cả trí tuệ và tinh thần cho con người. 
Hoạt động du lịch trong thời gian qua làm cho bộ phận văn hoá phi vật thể như lễ hội dân gian, văn nghệ dân gian, sinh hoạt tín ngưỡng, được phục hồi và sống lại thường xuyên phục vụ du khách. 
Nhìn chung những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể trên đất Thăng Long -
Hà Nội được sử dụng, khai thác và phát huy ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn cho việc 
phát triển du lịch. Đó là bước đi đúng đắn, hợp lý trong việc phát triển du lịch bền vững 
ở nước ta. 
Song thực tế còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong việc khai thác, sử dụng các giá trị di sản văn hoá như là tài nguyên chủ yếu của du lịch
Chúng ta chưa khai thác hết tiềm lực của tài nguyên hiện có, còn rất nhiều tài 
nguyên du lịch nhân văn vẫn còn nằm ngoài môi trường hoạt động của du lịch, nằm ngoài các tua du lịch được tổ chức lâu nay. 
Mỗi di sản văn hoá đều chứa đựng trong đó những nội dung riêng biệt, độc đáo, ở đó là sự phản ánh, là sự kết tinh, là sự lưu giữ đặc trưng lịch sử dân tộc, qua các thời kỳ lịch sử, là nét đặc sắc của phong tục tập quán của dân tộc. Nhưng chúng ta chưa truyền tải hết được nó, do đó khách du lịch chỉ tìm mới nhận thấy cái vỏ bề ngoài, cái vỏ kiến trúc, cái vỏ ngôn ngữ của một số di sản. Điều đó vừa làm nghèo đi các giá trị văn hoá dân tộc trước khách du lịch, vừa hạn chế tính đa dạng của du lịch, du lịch chỉ còn là một thứ giải trí thư giãn mà giảm đi ý nghĩa tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ của khách du lịch. Vấn đề này liên quan trực tiếp đến tầm hiểu biết về văn hoá của người lãnh đạo, quản lý du lịch đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch
Đối với các di sản văn hoá - lịch sử - kiến trúc, các danh thắng, hoạt động du lịch 
có quyền khai thác để thu lời. Nhưng hoạt động du lịch không phải chỉ là đưa các đoàn 
khách đến rồi đi.Việc bảo vệ, tôn tạo và tu bổ các di tích phó mặc cho các ngành khác mà 
trực tiếp là ngành văn hoá. Đã đến lúc du lịch không thể không quan tâm tới công tác đầu 
tư, tu bổ di tích, bảo vệ môi trường văn hoá, di tích, danh lam thắng cảnh. Đó chính là nhằm mục tiêu phát triển bản thân hoạt động du lịch. Sự nhận thức của ngành du lịch và văn hoá nếu còn khác nhau sẽ dẫn đến việc mất cân đối giữa khai thác và tu bổ di tích, những giá trị của các di sản văn hoá sẽ chưa thực sự được chú trọng bảo tồn, tôn tạo phát huy trong quá trình hoạt động kinh tế du lịch
2.2. Sự phát triển du lịch gắn với phát triển văn hoá ở Thủ đô 
2.2.1. Khái quát chung về du lịch Hà Nội 
du lịch Hà Nội đã có quá trình phát triển và hình thành từ thời Pháp thuộc phục 
vụ cho ngoại giao và các tầng lớp quan chức của chính quyền thực dân phong kiến. Một 
số khách sạn được xây dựng nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém nhiều so với 
Âu châu. 
Sau 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, du lịch Hà Nội bắt đầu được xây dựng từ cơ sở vật chất nghèo nàn do Pháp để lại. 
Tháng 7 năm 1960, Đảng và Nhà nước chủ trương thành lập Công ty du lịch Việt Nam. du lịch Hà Nội chủ yếu hoạt động theo hướng phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước. 
Đến đầu năm 1963, chi nhánh du lịch Hà Nội trực thuộc Công ty du lịch Việt Nam được thành lập. Chi nhánh có hai khách sạn là Hoàn Kiếm và Dân Chủ. Thời kỳ này cả nước tập trung cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, do đó Đảng và Nhà nước chưa có điều kiện chính thức đưa du lịch vào cơ cấu phát triển kinh tế xã hội. 
Sau Đại hội VI của Đảng, thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế hàng 
hoá nhiều thành phần, sản xuất dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng có nhiều biến 
chuyển theo cơ chế mới. Hoạt động du lịch Hà Nội đã được mở rộng không những về 
đối tượng khách mà cả phương thức kinh doanh. Kinh doanh du lịch có bước phát triển 
với tốc độ cao, hiệu quả kinh tế tăng dần. du lịch đang được phân cấp quản lý theo 
ngành dọc và theo lãnh thổ. Sở du lịch Hà Nội được chính thức thành lập vào ngày 21 
tháng 6 năm 1994. Cho đến nay Sở du lịch Hà Nội đang quản lý 378 cơ sở lưu trú với 
11.697 phòng. Trong đó gồm 62 khách sạn quốc doanh, 17 khách sạn liên doanh với 
nước ngoài,  22 khách sạn cổ phần,  182 khách sạn tư nhân, 5 khách sạn của các chi 
 nhánh, 90 cơ sở lưu trú (có 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao). Với đội ngũ cán bộ của toàn ngành khoảng gần 20.000 người. 
Hà Nội ngày nay là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá đất nước. Vì vậy cũng là nơi tập trung có tiềm lực kinh tế chủ yếu, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ phát triển và là nơi tập trung nhiều nhân tài của đất nước. 
Với vị trí thuận lợi, có tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng du lịch phong phú, Hà Nội đang giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển du lịch nói riêng, phát triển kinh tế của cả nước nói chung. 
Trong những năm qua, ngành du lịch Hà Nội đã thể hiện rõ vai trò của ngành kinh 
tế quan trọng. du lịch đã đóng góp cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng, và góp phần 
tạo doanh thu cho nhiều ngành khác, xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư nơi đón 
khách du lịch. Tại thời điểm năm 1999, du lịch Hà Nội mới chỉ đón được 380 nghìn lượt 
khách du lịch quốc tế, nhưng đến năm 2004 Hà Nội đã đón được 950 nghìn lượt khách 
quốc tế, tăng 2,5 lần so với 1999. Với tốc độ này, Hà Nội hi vọng năm 2010 sẽ đạt được 
các  chỉ  tiêu  theo  tinh  thần  Nghị  quyết 11  của  Thường  vụ  Thành  uỷ  sẽ  đón  được 
1.600.000 lượt khách quốc tế. du lịch thủ đô đã phát triển theo hướng: Bền vững, giữ gìn 
được truyền thống văn hoá, lịch sử, môi trường, đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Hệ thống 
cơ sở vật chất kỹ thuật được nâng cấp và hoàn thiện. Chất lượng dịch vụ được cải tiến, 
nhiều chương trình du lịch mới ra đời, môi trường du lịch ngày càng được cải thiện. 
2.2.2. Thực trạng hoạt động du lịch gắn với phát triển văn hoá ở Thủ đô Hà
Nội
2.2.2.1. Việc khai thác các di tích văn hoá và bảo tàng: 
Thủ đô Hà nội là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử văn hoá và bảo tàng. Vì vậy đây cũng là nơi rất giàu tiềm năng du lịch văn hoá. Theo Cục Di sản văn hoá, cả nước có khoảng 2.727 di tích được xếp hạng thì Hà Nội có 1.766 di tích, chiếm 70.4% số di tích của cả nước, trong đó có nhiều di tích lịch sử văn hoá quan trọng, nổi tiếng được khách du lịch thường xuyên đến thăm và ngưỡng mộ như: Văn Miếu, Chùa Một Cột, Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh… 
 Hà Nội do có những ưu đãi về thiên nhiên, khí hậu, về vị trí địa lý đã làm cho các cảnh quan thiên nhiên được kết hợp một cách hài hoà, khéo léo với các công trình văn hoá nhân văn. Vì vậy có nhiều lợi thế trong việc tổ chức khai thác các giá trị văn hoá đặc trưng và các tiềm năng tự nhiên vốn có sự kết hợp tương đối chặt chẽ. Khách du lịch đến Việt Nam và mọi người Việt Nam ở các miền quê khác nhau khi đến Hà nội đều không thể không đến thăm Hồ Hoàn Kiếm nơi có Tháp Rùa và di tích đền Ngọc Sơn cùng một số công trình kiến trúc quanh hồ như tháp Hoà Phong, tượng Vua Lê… tạo thành một quần thể di tích liên hoàn. 
Có thể nói hồ Hoàn Kiếm đã trở thành nơi hội tụ và xuất phát của du khách bốn phương khi đến và đi qua Hà Nội. Cảnh quan của hồ ngày nay đã được cải tạo, nó đã trở thành một trong những thắng cảnh hấp dẫn khách thập phương. 
Việc phát triển du lịch gắn với văn hoá đã đem lại các giá trị tinh thần cho con 
người, giúp con người biết trân trọng hiện tại, giữ gìn quá khứ, nâng cao sự hiểu biết về 
lịch sử văn hoá của dân tộc mình cũng như tăng thêm sự hiểu biết về các nền văn hoá 
của các quốc gia, các dân tộc khác. Muốn hiểu biết đất nước con người, lịch sử văn hoá 
- xã hội và những đặc trưng của mỗi nước du khách thường đến bảo tàng vì bảo tàng là 
cơ quan nghiên cứu, lưu giữ tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử văn hoá. Thông qua các 
hiện vật gốc tiêu biểu và xác thực được lưu giữ trong bảo tàng, bảo tàng có vai trò hết 
sức to lớn trong việc truyền bá lịch sử, văn hoá của dân tộc. Du khách muốn tìm hiểu 
về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán các truyền thống của dân tộc, thì địa chỉ đáng 
tin cậy của du khách chính là các bảo tàng. Như vậy bảo tàng có mối quan hệ rất đặc 
biệt với du lịch. Bảo tàng chính là tài nguyên của khách du lịch để tìm hiểu về văn hoá 
sở tại. 
Trong hệ thống bảo tàng ở Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một 
trong những điểm dừng chân khá lý thú của du khách trong các chương trình du lịch
Số khách thăm quan bảo tàng hàng năm tăng lên không ngừng. Trung bình hàng ngày 
bảo tàng đón trên 200 lượt khách đến nghiên cứu và thăm quan. Ngoài việc tiếp cận với 
du khách, Bảo tàng Lịch sử còn thiết lập mối quan hệ với hơn 80 bảo tàng và các cơ 
quan văn hoá trên thế giới. Có thể nói Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã trở thành một cơ 
 quan du lịch văn hoá là đầu mối quan trọng trong ngành bảo tàng nghiên cứu về khoa học lịch sử. 
Qua báo cáo tổng kết 40 năm hoạt động, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã phục vụ hơn 12 triệu lượt khách thăm quan trong nước, hơn 150.000 lượt khách nước ngoài tham quan. Trung bình mỗi năm Bảo tàng phục vụ trên 300 nghìn lượt khách học tập, tham quan trong nước và hơn 4 nghìn khách quốc tế. 
Bảo tàng Cách mạng đã dần dần có mặt trong các chương trình du lịch của các 
công ty du lịch Việt Nam, giúp nhân dân thế giới hiểu rõ những chặng đường chiến đấu 
hy sinh đầy gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo 
của Đảng. 
Bảo tàng Hồ Chí Minh có số khách đến tham quan du lịch đông nhất. Theo ước tính, trung bình gần 1 triệu khách / năm đến bảo tàng để tìm hiểu về cuộc đời hoạt động của Người, một danh nhân văn hoá của thế giới, đồng thời qua đó du khách có điều kiện được tìm hiểu thêm về văn hoá và con người Việt Nam. 
Hoạt động của các bảo tàng ở Hà Nội nói chung ngày nay rất phù hợp với yêu cầu, sở thích của du khách, ngày càng thu hút thêm du khách. Nhưng đáng tiếc là cho đến nay Hà Nội vẫn chưa có lấy một bảo tàng riêng của mình !!! 
Chúng ta có thể tham khảo một số chương trình du lịch tiêu biểu gắn với các di sản văn hoá và bảo tàng ở Hà nội trong thời gian qua. 
Chương trình 1: (1 ngày) 
Viếng lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh 
Thăm khu du tích về Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chùa Một
Cột.
Thăm đền Quán Thánh, thăm chùa Trấn Quốc 
Chương trình 2: (1 ngày) 
Thăm Văn Miếu 
Thăm Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Quân đội Thăm Hồ Hoàn Kiếm 
Xem múa rối nước tại Nhà hát múa rối Thăng Long 
 Chương trình 3: (1 ngày) 
Thăm thành Cổ Hà Nội: Lầu Công Chúa, thành Cửa Bắc, Cột Cờ 
Thăm phố cổ: Hàng Bạc, Hàng Khay, Chợ Đồng Xuân, Đình Bạch Mã, Ô Quan 
Chưởng 
Chương trình 4: (1 ngày): ẩm thực Hà nội 
Tứ Kỳ, Huỳnh Cung, Làng nghề Quán Gánh 
Thăm Phủ Tây Hồ - Hồ Tây, thưởng thức đặc sản vùng Hồ Tây. Tối thăm khu phố ẩm thực Tống Duy Tân 
2.2.2.2. du lịch với văn hoá ẩm thực và nghệ thuật truyền thống Hà Nội 
Hà Nội là đất kinh kỳ, vốn được xem là “ăn Bắc, mặc Kinh” nên người Hà Nội hay những khách thập phương đã từng được thưởng thức món ăn Hà Nội đều không thể quên cái cảm giác thơm ngon từ cách chế biến, gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện thế nào cho đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục. Một trong những món ăn được xếp lên hàng đầu về nghệ thuật ẩm thực, làm hài lòng biết bao du khách đó là phở. Phở thì ở đâu cũng có nhưng chỉ có phở Hà Nội chế biến là ngon nhất, để lại nhiều dư vị nhất trong lòng người, thậm chí cả du khách phương Tây. Phở tập trung nhiều nhất và nổi tiếng nhất là ở khu vực phố cổ như: Lý Quốc Sư, phở Bát Đàn, phở gà Nam Ngư. Bún chả ở phố Sinh Từ nay là phố Nguyễn Khuyến hay ở phố Hàng Mành. 
Bên cạnh những món ăn trên, Hà Nội có một món ăn đặc sản mà hầu hết du khách đến Hà Nội đều tìm đến thưởng thức đó là chả cá Lã Vọng ở phố Chả Cá (tức phố Hàng Sơn xưa kia). 
Và từ lâu hương cốm làng Vòng đã vượt khỏi luỹ tre làng, theo những gánh hàng rong vào phố trở thành một món quà lịch sự và tinh tế của mùa thu Hà Nội, một món ăn tao nhã của người Tràng An. 
Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì 
Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn. 
Có thể nói, cốm chính là một nét đẹp văn hoá lâu đời, một nét đẹp thanh tao đặc 
trưng của người Hà Nội. Thật khó kể hết những món ăn, đồ uống hấp dẫn hơn thế nữa 
của người Thủ đô. Chỉ biết rằng những thú vui ẩm thực đó đã tạo nên một bức tranh độc đáo, sống động về một Hà Nội ngàn năm văn hiến, và nó thu hút, mời gọi du khách thập phương. Các cuộc thi về tài năng ẩm thực của ngành du lịch Hà Nội đã góp phần bảo tồn di sản văn hoá ẩm thực của đất Thăng Long - Hà Nội văn hiến, con người Hà Nội tài hoa, thanh lịch. 
Cùng với sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội được nâng lên một cách rõ rệt, 
những hoạt động văn hoá nghệ thuật đang được chú ý phát triển phục vụ nhu cầu 
thưởng thức nghệ thuật của công chúng và phục vụ các hoạt động du lịch. Nhiều cơ sở 
văn hoá được phục hồi, nâng cấp hoặc xây dựng mới như Nhà Hát Lớn Hà Nội, Nhà hát 
múa rối nước Thăng Long… Với sản phẩm của nền văn minh lúa nước lâu đời, Nhà hát 
múa rối nước Thăng Long đã đáp ứng tốt nhu cầu vui chơi giải trí của du khách. Hình 
ảnh nhân vật Chú Tễu đã kích thích trí tò mò, lòng hiếu kỳ của khách. Tuy nhiên, để 
loại hình nghệ thuật này thu hút khách hơn nữa, các doanh nghiệp lữ hành cần phải có 
sự phối hợp với các cơ quan văn hoá để tổ chức các hình thức phục vụ vừa đáp ứng nhu 
cầu văn hoá của khách du lịch vừa giữ được giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam. 
2.2.2.3. du lịch với hoạt động giao lưu văn hoá trong và ngoài nước 
du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Trong hoạt động du lịch, các cuộc gặp gỡ trao đổi trên phạm vi vùng lãnh thổ, quốc gia và quốc tế… đã trở thành hoạt động phổ biến và vai trò càng to lớn. Các hoạt động này nhằm tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị và xúc tiến du lịch, thông tin du lịch và tiến tới hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch, kết nối các chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp, của các vùng lãnh thổ, của mỗi quốc gia… 
Thời gian qua để thông tin về du lịch Việt Nam và Hà Nội, để tuyên truyền quảng bá, tiếp thị cho các doanh nghiệp du lịch, liên hoan du lịch Hà Nội đã thực hiện một cách có kế hoạch. Mục tiêu quảng bá về các tuyến điểm du lịch, các chương trình du lịch trong và ngoài nước của các doanh nghiệp du lịch đã có hiệu quả do quá trình vận hành để lại. Sự bố trí khoa học trong các gian hàng tại liên hoan. Khách hàng có thể quan tâm đến bất kỳ thông tin nào về chương trình du lịch được giới thiệu và sẵn sàng được giải đáp, được cung cấp thông tin cần thiết. 
 Năm 1999 Sở du lịch Hà Nội đã tổ chức liên hoan du lịch lần thứ nhất. Hơn 70 doanh nghiệp trong nước tham gia giới thiệu sản phẩm của mình. Điều lý thú ở liên hoan này là nhiều doanh nghiệp du lịch đã giới thiệu được các chương trình du lịch cuối tuần hấp dẫn trên cơ sở nghiên cứu thị trường ở Hà Nội và vùng phụ cận. Với 200 hợp đồng được ký kết giữa các công ty ngay tại liên hoan đã chứng minh cho tính thực tiễn của cuộc liên hoan này. 
Liên hoan du lịch quốc tế Hà Nội năm 2005 do Sở du lịch Hà Nội tổ chức từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5 vừa qua đã quảng bá mạnh mẽ các sản phẩm của du lịch Hà Nội và cả nước, góp phần vào mục tiêu đón hơn 1 triệu lượt khách du lịch quốc tế năm nay tại Hà Nội (và trên 3 triệu lượt khách quốc tế trên cả nước). 
Theo báo cáo tổng kết của Sở du lịch Hà Nội cuộc liên hoan này hoành tráng 
hơn về qui mô, hấp dẫn hơn về nội dung, đã cuốn hút 40 tỉnh, thành trong cả nước tham 
gia giới thiệu sản phẩm của địa phương mình, gần 100 đoàn khách quốc tế có mặt. 
Khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm nối với các tuyến phố đi bộ và chợ đêm Đồng Xuân là trung tâm chính của Liên hoan với 350 gian hàng trưng bày các chương trình du lịch chất lượng cao, độc đáo và các dự án phát triển du lịch cùng với các sản phẩm làng nghề truyền thống của các nghệ nhân trong cả nước. 
Ngoài ra còn có các gian hàng của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại. Xen kẽ cùng các gian hàng trưng bày là các loại hoa cây cảnh. ấn tượng nhất là màn biểu diễn nghệ thuật trồng hoa trên mặt hồ nước của các nghệ sỹ Pháp đã thu hút rất đông đảo khán giả thưởng thức. Trong khuôn viên của công viên Bách Thảo, xung quanh những cây xanh tốt tươi có hàng trăm gian hàng ẩm thực được kiến trúc theo phong cách truyền thống và hiện đại với các món ăn á, Âu là cơ hội để các đầu bếp có tài nấu ăn trình bày nghệ thuật, và cơ hội để họ trao đổi học tập kinh nghiệm, học tập tài năng với sự tinh tế thanh lịch phục vụ mọi đối tượng. 
Tại khu phố cổ như Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường mục đích đặt một nền móng xây dựng một festival sáng tạo, qui mô lớn và đặc trưng nhân kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội đã tổ chức biểu diễn nghệ thuật Pháp ở những phố cổ này tạo nên một cuộc gặp gỡ giao lưu. 
 Là trung tâm du lịch lớn của cả nước, Hà Nội tập trung nhiều doanh nghiệp lữ hành quốc tế và nội địa. Trong những năm qua cùng với sự khởi sắc của hoạt động du lịch của cả nước, hoạt động lữ hành Hà Nội vẫn có thế đứng riêng với tài nguyên du lịch nhân văn của thủ đô. Hầu hết các tua du lịch ấy chính là bản sắc văn hoá Việt Nam được hội tụ thành tinh hoa Thăng Long - Hà Nội. 
Hà Nội cũng là trung tâm du lịch của vùng châu thổ Bắc Bộ, có nhiều tỉnh thành 
lân cận như Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh 
Hoá, Nghệ An… Vì vậy có thể thấy rằng đây là một khu vực rộng lớn có các miền địa 
hình khác nhau từ đồng bằng, biển, đến rừng núi… ở đó cũng là vùng có nguồn tài 
nguyên phong phú, có hệ thống giao thông thuận tiện, tiềm năng du lịch nhân văn và tự 
nhiên đa dạng, đang giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của nước 
ta. 
Thực hiện chỉ đạo của Thành uỷ Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội về tăng cường hợp tác về mọi mặt giữa Hà Nội với các tỉnh thành trong nước, Sở du lịch Hà Nội đã tích cực mở rộng hợp tác với các địa phương nhằm hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm phân phối khách du lịch lớn nhất khu vực phía Bắc. 
Du khách đến Hà Nội vãn cảnh, nghỉ ngơi và sau đó sẽ tham quan du lịch các địa phương khác như: du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), nghỉ mát trên núi Tam Đảo, tham quan danh thắng ở Bích Động (Ninh Bình), tham quan các di tích văn hoá ở Hà Tây, Bắc Ninh, Hoa Lư, trẩy hội ở chùa Hương, Phủ Giầy… Khách đi nghỉ dưỡng và tham quan từ Hà Nội đi các nơi vẫn tăng đều hàng năm (9,6 đến 11%/ năm). Khách có xu hướng thay đổi tuyến hướng du lịch gắn với thiên nhiên và thường hướng tới những điểm du lịch mới như Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, rừng Cúc Phương và những nơi địa điểm giàu tính văn hoá, tín ngưỡng, du lịch sinh thái
Chúng ta có thể tham khảo một số chương trình du lịch xuất phát từ Hà Nội: 
Chương trình 1: Hà Nội - Vạn Phúc - Chùa Trầm - Chùa Trăm Gian 
Chương trình 2: Hà Nội - Bát Tràng - Đông Hồ - Chùa Bút Tháp - Đồng Kỵ. Chương trình3: Hà Nội - Chùa Thầy - Chùa Tây Phương 
Chương trình 4: Hà Nội - Chùa Hương 
 - Hà Nội - Rừng Quốc gia Cúc Phương - Hà Nội - Tam Đảo 
- Hà Nội - Kim Bôi- Hoà Bình 
- Hà Nội - Hồ Núi Cốc 
- Hà Nội - Hồ Ba Bể 
- Hà Nội - Hoa Lư - Tam Cốc - Phát Diệm - Hà Nội - Đồ Sơn 
- Hà Nội - Cát Bà 
- Hà Nội - Hạ Long 
- Hà Nội - Sầm Sơn 
- Hà Nội - Huế 
- Hà Nội - Nha trang 
- Hà Nội - Nha Trang - Đà Lạt - T.P Hồ Chí Minh 
- Hà Nội - Nha Trang - Đà Lạt - Vũng Tàu - T.P Hồ Chí Minh - Tây Ninh - Củ 
Chi 
- Xuyên Việt 
Hà Nội còn là điểm du lịch hàng đầu của châu á. Thành công này được gặt hái từ kết quả tất yếu của quá trình quảng bá từ những năm trước. Chương trìmh xúc tiến quảng bá du lịch đã có tiếng vang lớn trong năm là phối hợp với hãng Hàng không Việt Nam mở thêm trung tâm du lịch tại sân bay quốc tế Nội Bài. Đây là nơi đầu tiên đón chào mừng du khách năm châu đến Hà Nội, giới thiệu quảng bá về hình ảnh đất nước con người Việt Nam đồng thời cung cấp thông tin bổ ích cho du khách về tua, tuyến, điểm, các đơn vị lữ hành và khách sạn trên địa bàn Hà Nội. 
Hà Nội đã mở rộng hợp tác với 25 thủ đô và thành phố lớn của các nước qua 
việc ký kết nhiều văn bản ghi nhớ và thoả thuận trong lĩnh vực du lịch như với: Pháp, 
Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Năm 2004 mở rộng xúc tiến du lịch đến thị trường Nam 
Phi, Nam Mỹ. Hiện đã có 167 thị trường có khách du lịch đến Hà Nội. Việt Nam được 
coi là điểm đến hấp dẫn và thân thiện, Hà Nội được công nhận là “thành phố hoà bình” 
và được tạp chí Mỹ Travel Leisurue (3/2003) bình chọn là thành phố du lịch tốt thứ hai 
 Châu á (sau Băng Cốc), đứng thứ 13 thế giới và trở thành thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế lớn như Liên minh các thành phố lịch sử (NHC), Hiệp hội quốc tế thị trường các thành phố có tổ chức sử dụng tiếng Pháp (AIMF), mạng lưới chính quyền địa phương (CITYET) và Hiệp hội thế giới các đô thị lớn (Metropolis). 
Những hoạt động trên đã góp phần tạo ra một vị thế mới cho du lịch thủ đô, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiểu biết và tình cảm của nhân dân cả nướcvà bè bạn quốc tế về du lịch Hà Nội, văn hoá và con người Hà Nội nói riêng, văn hoá và con người Việt Nam nói chung. 
2.2.2.4. Quản lý nhà nước về du lịch và sự phát triển văn hoá 
du lịch là loại hình kinh tế đặc thù khác với các ngành kinh tế khác về sản phẩm cũng như phương thức tiêu dùng. du lịch phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, lịch sử, truyền thống văn hoá và điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Phạm vi hoạt động du lịch không ngừng mở rộng, thường xuyên có sự thay đổi không ngừng về cơ cấu nguồn khách. Hoạt động du lịch tác động đến nhiều ngành đòi hỏi tính toán toàn diện trong chính sách và giải pháp cũng như sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng trong công tác quản lý. Từ đặc điểm của hoạt động du lịch gắn với phát triển văn hoá nhất thiết phải nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về du lịch
Vai trò quản lý của Nhà nước trong hoạt động du lịch được xác định rõ trong Luật du lịch (2005): 
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch 
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương chịu trách nhiệm 
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với 
các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch
Bộ, và cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi 
chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [42, tr.17]. 
Mặc dù mới được thành lập nhưng Sở du lịch Hà Nội đã tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện được nhiều việc liên quan đến công tác quản lý các hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó Ban chỉ đạo về du lịch của Uỷ ban nhân dân thành phố cũng góp phần không nhỏ vào việc quản lý nhà nước về du lịch. Bước đầu đã thực hiện tốt việc chuyển nhà khách, nhà nghỉ công ích sang kinh doanh dịch vụ du lịch, quản lý và giám sát được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ lưu trú và lữ hành. 
Sự chuyển đổi cơ chế tổ chức quản lý kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa trong kinh doanh du lịch, đã làm cho tổ chức du lịch trên địa bàn thành phố có nhiều thay đổi và đã đạt được nhiều thành tích quan trọng: Có sự tăng nhanh về lượng khách, đa dạng hoá về thị trường, mức nộp ngân sách ngày càng tăng và có cơ hội đầu tư vào cơ sở vật chất cho du lịch. du lịch góp phần tạo doanh thu cho nhiều ngành khác, góp phần xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư địa phương nơi có tài nguyên du lịch. Công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường một bước, hầu hết các hoạt động du lịch được tổ chức quản lý thống nhất, thông suốt. Tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế trong quản lý nhà nước về du lịch là: 
Sở du lịch vẫn chưa phối hợp có hiệu quả với chính quyền địa phương và ngành 
văn hoá trong việc bảo vệ môi trường, cảnh quan, khai thác và tôn tạo các cơ sở văn 
hoá. Việc quản lý và khai thác các di sản văn hoá phục vụ du lịch chưa thống nhất, 
trong các cấp, các ngành nhiều khi phó mặc cho chính quyền địa phương quản lý hoặc 
các cơ quan quản lý không có đủ điều kiện đảm bảo. Tình trạng xuống cấp và huỷ hoại 
của các giá trị văn hoá vẫn ở mức báo động. Nhiều nơi việc tôn tạo các di tích văn hoá 
có tiềm năng du lịch được tiến hành một cách bị động thiếu nghiên cứu qui hoạch và chuyên môn, thiếu tôn trọng giá trị lịch sử của di tích. Có nhiều nơi chỉ chú trọng khai thác phục vụ những lợi ích trước mắt mà không tính đến những hậu quả sau này do việc tổ chức du lịch bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, phá hoại cảnh quan. 
Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực đầu tư vào du lịch có tăng nhưng chưa đồng bộ và thường tập trung vào các cơ sở lưu trú hiện có. Vì vậy việc đầu tư thường tự phát do đó không đủ sức thu hút khách địa phương. 
Chưa có cơ chế hữu hiệu khai thác các tiềm năng du lịch ở thủ đô do đó sản phẩm du lịch vẫn còn nghèo nàn, thiếu các hoạt động vui chơi giải trí cho khách. Sự phối hợp giữa các ngành quản lý sản phẩm du lịch còn thiếu cơ chế phối hợp do đó làm giảm tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch
Nhận thức xã hội với du lịch được nâng cao nhưng chưa đồng đều ở các cấp, các ngành, vẫn còn nhiều chính sách chưa thuận lợi cho du lịch như chính sách giá cho du lịch còn cao, nhiều nơi áp dụng chính sách hai giá, chưa có cơ chế cho vay ưu đãi đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch
Chưa quản lý được một số hiện tượng không lành mạnh trong kinh doanh du lịch như tranh giành khách, ăn xin và các tệ nạn xã hội khác… 
Tốc độ phát triển du lịch ngày càng nhanh và đa dạng nhưng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch chưa tiến kịp xu thế phát triển. 
Tất cả những vấn đề trên đặt ra yêu cầu quan trọng là phải tiếp tục đổi mới công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Hà Nội, nhằm vì sự phát triển bền vững du lịch văn hoá ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới. 

Kết luận chương 2 

Xem xét mối quan hệ giữa phát triển du lịch với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và sắc thái văn hoá của Hà Nội là vấn đề rất đáng quan tâm. Hà Nội vừa là nơi hội tụ những tinh hoa văn hoá của cả nước vừa có sức lan toả văn hoá cho cả dân tộc. Chính điều này tạo ra ưu thế cho du lịch Hà Nội phát triển. 
Hà Nội có nhiều di tích văn hoá, kiến trúc, tín ngưỡng dân gian, nhiều thiết chế 
văn hoá hiện đại. Những di sản, gía trị văn hoá này có ý nghĩa lớn đối với hoạt động du 
lịch, nhất là việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, bản sắc văn hoá dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam. Việc khai thác các di sản và giá trị văn hoá này không những nhằm giữ gìn và phát triển văn hoá Hà Nội mà còn tăng thêm rất nhiều tính hấp dẫn cho du khách trong nước và quốc tế. 
Tuy nhiên, phát triển du lịch ở Hà Nội trong mối quan hệ với phát triển văn hoá vẫn còn một số mặt hạn chế là: 
- Một số lễ hội, sự kiện du lịch tính chuyên nghiệp chưa cao, đặc biệt các sự kiện du lịch trong nước chủ yếu là “ta diễn cho ta xem”. Các sự kiện lễ hội văn hoá du lịch diễn ra còn hay trùng lặp về nội dung. Mô típ chung của các lễ hội là đêm khai mạc ở dạng sân khấu hoá với các tiết mục mang nặng tính biểu diễn hình thức thiếu tính độc đáo của địa phương. 
- Việc tổ chức một số lễ hội du lịch quá gần nhau về thời gian và địa điểm. Vì vậy không mang lại những hiệu quả như mong muốn. 
- Các làng nghề truyền thống hiện nay có biểu hiện bị thương mại hoá và bị pha trộn các yếu tố ngoại lai, mất dần các giá trị văn hoá đích thực của nó. 
- Trình độ của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tế, đặc 
biệt là sự thiếu hiểu biết về văn hoá, về công tác quản lý do đó đã ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động du lịch
- Còn có sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá; kinh 
tế; an ninh; du lịch… 
- Hệ thống cơ sở du lịch còn thiếu qui hoạch… cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém chưa đáp ứng được nhu cầu của khách. 
- Các tệ nạn xã hội trong hoạt động du lịch còn chưa được ngăn chặn và khắc phục triệt để. 

Chương 3 
phương hướng và giải pháp 
nhằm tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá 
du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay 


3.1. Phương hướng 
Trong những năm qua sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã đạt được những 
thành tựu đáng kể: Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, 
quan hệ đối ngoại và việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng. Đời sống 
văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được tiếp tục cải thiện. Thành tựu 
trên đây là nền tảng vững chắc cho sự phát triển văn hoá và du lịch ở nước ta trong thời 
gian tới. 
Nếu như những giai đoạn trước đó du lịch chưa được nhìn nhận tương xứng với 
tiềm năng của nó thì trong thời kỳ đổi mới đường lối có tính định hướng chiến lược của 
Đảng đã mở ra cho du lịch Việt Nam sự phát triển mới, vóc dáng mới, vị thế mới. 
Đảng và Nhà nước ta đã xác định: 
du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước [57, tr.5-6]. 
Đảng và Nhà nước đã tăng cường sự lãnh đạo với công tác văn hoá và du lịch, tăng cường công tác quản lý, ban hành sửa đổi và bổ sung các chính sách, luật pháp liên quan đến du lịch, nhằm làm cho du lịch và văn hoá phát triển mạnh mẽ trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. 
Các hoạt động của du lịch Việt Nam có thể nói đã được đặt đúng vị trí mà nó cần 
có hơn trong thời kỳ đổi mới và xu hướng của nền kinh tế thị trường. Đảng và Nhà nước 
ta đã chú trọng tới tất cả hoạt động đầu tư cho du lịch, bảo đảm an ninh du lịch, khai thác 
các nguồn lực du lịch và đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ du lịch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ… thực sự là đòn bẩy để phát phát triển du lịch Việt Nam trong tương lai. 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX Đảng ta đã chỉ rõ cần phải bảo 
tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử để phát triển du 
lịch. 
Một trong những nội dung cơ bản của thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong những năm trước mắt là: Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực. Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó, Đại hội VIII của Đảng đã định hướng phát triển du lịch một cách toàn diện: 
Triển khai thực hiện qui hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, sinh thái, môi trường. Xây dựng các chương trình và điểm du lịch hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy động nguồn lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở những khu du lịch tập trung ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau [20]. 
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng tiếp tục xác định: cần phát triển du lịch văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu dịch vụ trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực. 
Trong bối cảnh kinh tế thị trường, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thì các giá trị và di sản văn hoá ngày càng trở nên quan trọng, cần được đặt đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển của quốc gia, dân tộc. Một trong những hoạt động quan trọng liên quan đến các gía trị văn hoá quốc gia là hoạt động của ngành du lịch. Pháp lệnh du lịch (1999) đã nêu rõ: “Lấy văn hoá dân tộc làm cơ sở chính cho mọi hoạt động du lịch”. Pháp lệnh còn khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch văn hoá, du lịch sinh thái giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” [57, tr.6]. 
 Xuất phát từ những quan điểm của Đảng ta về phát triển du lịch và văn hoá, đồng thời với nhận thức rõ vai trò to lớn của thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIII đã định hướng mục tiêu phát triển du lịch văn hoá là: 
Nâng cao chất lượng và phát triển đồng bộ dịch vụ du lịch trở thành ngành quan trọng trong cơ cấu kinh tế thủ đô. Phát triển du lịch văn hoá - sinh thái, du lịch truyền thống, lễ hội, du lịch kinh doanh… kết hợp tốt giữa du lịch văn hoá với tôn tạo các di tích, danh lam thắng cảnh, giữa phát triển các sản phẩm du lịch với quảng bá truyền thống lịch sử, văn hoá Thăng Long - Hà Nội… Phối hợp với các địa phương khác để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho các chương trình phát triển du lịch đa dạng… [39, tr.38]. 
Điều này phù hợp với nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội theo hướng: dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp trong đó ngành dịch vụ, đặc biệt là du lịch dịch vụ phải được phát triển mạnh cả về chất và lượng với trình độ cao hơn nhằm thực hiện thành công công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đảng bộ Hà Nội xác định mục tiêu: Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả vùng Bắc Bộ và là một trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực. Phát triển du lịch gắn với nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn với việc quảng bá, giới thiệu văn hoá và con người Hà Nội “ văn minh, thanh lịch, hiện đại.” 
3.2. GiảI pháp 
Để tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trên địa bàn Hà Nội nói riêng, nước ta nói chung cần quan tâm tới các giải pháp cơ bản là: 
3.2.1. Xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt động du lịch 
Hoạt động du lịch bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố cốt lõi quan trọng là 
văn hoá. Muốn du lịch phát triển bền vững, yếu tố văn hoá là một trong những điều 
kiện không thể thiếu được. Bởi vì các gía trị văn hoá trong các tua du lịch, các điểm du 
lịch đã làm tăng các giá trị thấm sâu vào môi trường sống, sinh hoạt, quan hệ cộng 
đồng, cá nhân của du khách. để mỗi du khách thoả mãn trong chuyến đi của họ, những 
yếu tố, những giá trị văn hoá Việt Nam làm cho họ cảm nhận một môi trường lành 
mạnh, bình yên, có sự độc đáo các nhân tố văn hoá trong đó. Chẳng hạn lòng hiếu khách, chiều khách ở mỗi dân tộc, khách được tiếp nhận nhiều kiến thức qua chuyến đi, 
thưởng thức khám phá được nhiều cái đẹp, cái hay, cái bất ngờ, khách giữ lâu ấn tượng 
về sự quyến rũ của nghệ thuật, sự cám dỗ của cảnh quan danh thắng, sự ngọt ngào đậm 
đà của các món ăn, khách được đáp ứng thông tin nhanh nhạy rẻ mà tiện lợi… Khách 
được thưởng thức những điệu múa, những bản dân ca Việt Nam đậm chất trữ tình, sâu 
lắng. 
Những sản phẩm du lịch từ điểm du lịch, tuyến du lịch đến khách sạn, nhà hàng, 
phương tiện đều phải hoàn hảo. Toàn bộ mối quan hệ với khách - chủ - sản phẩm du 
lịch và các thiết chế tạo nên bộ mặt văn hoá, phản ánh chất văn hoá tiên tiến của nền du 
lịch. Đồng thời cũng chính những yếu tố đó nó cũng là cơ sở cho những khát khao 
khám phá thiên nhiên của khách du lịch. Nếu thiếu những cái đó sẽ giảm đi nhu cầu 
khám phá của du khách. Người ta đã chững minh sự mệt mỏi gắng gượng của khách du 
lịch trên đường ngắm cảnh thủ đô khi bị ùn tắc giao thông, sự ô nhiễm môi trường, sự 
ứng xử không mấy thanh lịch của người dân bản địa, nạn ăn xin của một số cụ già, trẻ 
em lang thang trên đường phố... Từ góc độ xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt 
động du lịch thì đây là một vấn đề rất bức xúc, là nhân tố trực tiếp và thường xuyên tạo 
ra ý nghĩa. Từ đó ảnh hưởng lâu dài đến phát triển du lịch ở thủ đô. 
3.2.2. Hình thành một số vùng trọng điểm về du lịch ở Thủ đô gắn với các di sản văn hoá 
Khu vực trung tâm hồ Hoàn Kiếm: 
Là khu du lịch có hồ Gươm với Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, có trung tâm thương mại, và là tâm điểm giao lưu nối liền với hệ thống di tích khu phố cổ tạo thành một quần thể kiến trúc mang đậm nét Hà Nội. Củng cố và phát triển tuyến phố đi bộ tại Hàng Ngang - Hàng Đào vào tất cả các tối trong tuần. Đồng thời cần giữ gìn vẻ đẹp của các khu phố cổ để khu vực này mãi mãi là trung tâm của thủ đô. 
Khu vực Ba Đình - Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh - Khu di tích khác: 
Khu vực này ngày nay không chỉ là trung tâm chính trị, lịch sử mà còn là khu du 
lịch của thủ đô. Quảng trường Ba Đình, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo tàng Quân 
đội, Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu di tích Cổ Loa… đặc biệt Bảo tàng Dân tộc học ra đời là một lợi thế tuyệt vời cho ngành du lịch. Các bảo tàng đem lại cho người xem hiểu biết về sự hình thành và phát triển của đất nước Việt Nam với trang sử oai hùng có những danh nhân lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hình ảnh đất nước Việt Nam thu nhỏ với 54 dân tộc, người ta có thể hiểu biết đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của những tộc người này một cách khái quát khi chưa có điều kiện đến tận nơi hoặc từ đây mà họ lựa chọn cho mình một chuyến du lịch mới. 
Khu du lịch Hồ Tây: 
Hồ Tây là trung tâm văn hoá, du lịch nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và là bộ phận 
không thể tách rời với hệ thống trung tâm thành phố. Nhìn tổng quát, tiềm năng của Hồ 
Tây về du lịch rất lớn, có thể cho ra đời và phát triển lâu bền loại hình du lịch có sức 
hẫp dẫn khách gần xa. Với mặt nước mênh mông, phong cảnh Hồ Tây tuyệt đẹp có 
nhiều loại hình vui chơi giải trí hẫp dẫn như bơi lội, câu cá, đua thuyền, lướt ván… 
được bao bọc xung quanh những làng nghề truyền thống cùng sắc màu của làng hoa 
Nghi Tàm, bánh tôm Hồ Tây cùng những di tích nổi tiếng của Tây Hồ… Nhưng nhìn 
chung thực trạng cơ sở hạ tầng và môi trường sinh thái của Hồ Tây hiện nay có rất 
nhiều việc phải làm nhất là phải có các công trình bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh 
thái quanh hồ. Giữ khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, thoáng đãng của Hồ Tây. Tuy đã 
thu hút được khách đi du lịch cuối tuần nhưng nếu công viên nước Hồ Tây được tổ 
chức hoạt động như công viên văn hoá Đầm Sen ở thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ là một 
trọng điểm du lịch đầy ấn tượng có sức thu hút mạnh mẽ du khách, xứng đáng với tầm 
vóc du lịch của Thủ đô. 
3.2.3. Bảo vệ tôn tạo và phát huy các di sản văn hoá trong hoạt động du lịch 
Xây dựng cơ chế chính sách bảo vệ tôn tạo tài nguyên phục vụ phát triển du 
lịch. Đề nghị các cơ quan hữu quan cho phép trích quĩ phát triển sản xuất với tỉ lệ cần 
thiết cho việc tôn tạo các giá trị tài nguyên thiên nhiên môi trường và các giá trị nhân 
văn. Cho phép tính vào giá thành một tỉ lệ hợp lý coi như chi phí hợp lệ, hợp lý để hình 
thành quĩ bảo tồn cho các giá trị đó đối với từng cơ sở sản xuất kinh doanh du lịch
Giáo dục nâng cao dân trí cho cộng đồng và khách du lịch. Sự phát triển du lịch 
đúng hướng còn cần đến sự tác động tích cực từ phía xã hội hay nói cách khác là đề cập đến vai trò của nhân dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể trong phát triển du lịch là sự cần thiết do đó: 
Xây dựng thành chương trình quốc gia giáo dục và nâng cáo dân trí về bảo vệ các tài năng phục vụ cho phát triển du lịch
Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ và nội dung cho chương trình giáo dục và nâng cao dân trí. 
Có chính sách đãi ngộ với các cá nhân, tập thể tham gia vào chương trình. 
Một số biện pháp cụ thể là: 
Mỗi khu du lịch có qui trình khác nhau, do đó cần xác định mục đích việc tôn tạo phạm vi, đối tượng, nội dung công tác tôn tạo, xác định chủ đầu tư và nguồn vốn đầu tư cũng như chủ thể thực hiện. Vấn đề đặt ra: tôn tạo với mục đích cho du lịch hay cho môi sinh? Do đâu cấp vốn? Và ai sẽ là người thực hiện?... 
Cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban ngành văn hoá và du lịch và các cơ quan địa phương trong việc bảo tồn, trùng tu, quản lý khai thác một cách hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch văn hoá hiện có. 
Ngành Văn hoá - Thông tin cần sớm hoàn chỉnh qui hoạch chi tiết về bảo tồn, 
tôn tạo các di sản văn hoá. Trong quá trình trùng tu cần tập trung vào một số điểm nhất 
định, tránh dàn trải, chú trọng chất lượng của công tác trùng tu nhất là quá trình nghiệm 
thu. 
Tập trung công tác nghiên cứu phục vụ các loại hình lễ hội truyền thống dân gian, các ngành nghề truyền thống. Tái hiện một số lễ hội cung đình, ca múa nhạc mang bản sắc văn hoá dân tộc phục vụ nhu cầu khách tham quan, góp phần đa dạng hoá sản phẩm du lịch
áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất vào lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc như tin học phục vụ cho việc xây dựng và quản lý hệ thống dữ liệu các di tích. 
3.2.4. Đa dạng hoá các sản phẩm và loại hình du lịch của Hà Nội 
Để có thể khẳng định được mình và tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách trong 
nước và quốc tế cần phải xây dựng được sản phẩm du lịch độc đáo và ở trình độ cao, sản phẩm du lịch này không những hình thành trên cơ sở các tài nguyên du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống và nền văn hoá độc đáo của Thủ đô mà còn cần phải khai thác vị trí trung tâm của Thủ đô trong mối quan hệ với các vùng du lịch phụ cận của cả nước. 
Sản phẩm du lịch của Hà Nội phải mang tính đặc trưng cho nền văn hoá và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Cần phải tập trung khai thác những tinh hoa, 
những truyền thống lịch sử, những giá trị độc đáo của văn hoá Thủ đô để tạo nên sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng của văn hoá và con người Hà Nội đáp ứng nhu cầu của du khách. 
Bên cạnh việc khai thác tốt các điểm du lịch hiện có ở Hà Nội, mở rộng các điểm du lịch xung quanh Hà Nội như Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh… để thiết lập các tuyến du lịch không những cho số người ở Hà Nội mà cả cho nhân dân trong nước và người nước ngoài đến thăm quan, làm việc tại Hà Nội. 
Phát triển thêm nhiều loại hình du lịch như: Loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu văn hoá, lịch sử, truyền thống của Thủ đô qua các di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc, các lễ hội dân gian, các nghề thủ công, truyền thống. Đây là tài nguyên vô giá thu hút mạnh mẽ du khách trong nước và quốc tế. 
Để phát triển loại hình du lịch này cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu văn 
hoá, lịch sử, phân loại và xếp hạng các di tích có giá trị, tiến hành tu bổ, tôn tạo các di 
tích đó, tổ chức bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử đồng thời phải hình thành các tuyến 
để đan kết các di tích này với nhau trong một chỉnh thể để giới thiệu cho du khách. 
Việc phục hồi các lễ hội dân gian truyền thống, việc tổ chức và phát huy các 
làng nghề truyền thống ở Thủ đô cũng là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cần phải 
có một qui hoạch chung nhằm tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển các nghề 
truyền thống này, không những để tạo thêm việc làm cho dân cư tạo thêm nguồn hàng 
xuất khẩu mà còn phục vụ ngay cho du khách quốc tế đến tham quan, nghiên cứu tại 
chỗ. 
Hà Nội đã và đang trở thành một trung tâmchính trị, văn hoá khoa học, văn hoá 
lớn của cả nước. Vai trò của Hà Nội sẽ ngày càng trở nên quan trọng không những ở trong nước mà cả quốc tế. Bởi vậy có thể và cần phải trú trọng phát triển loại hình du lịch Hội nghị để đáp ứng yêu cầu của khách trong nước và quốc tế đến Hà Nội tham dự các hội nghị khoa học, các hội thảo trong nước và quốc tế, các sinh hoạt văn hoá thể thao, các lễ kỷ niệm ngày lịch sử và truyền thống. 
Nghỉ ngơi cuối tuần là một yêu cầu rất lớn của khách nước ngoài đang công tác 
ở Việt Nam cũng như một bộ phận dân cư ngày càng lớn. Hà Nội có khu vực Hồ Tây, 
nhiều công viên và nhiều danh thắng đáp ứng được yêu cầu nghỉ ngơi của du khách. Để 
phát triển loại hình này cần trú trọng xây dựng các cơ sở nghỉ ngơi, các câu lạc bộ thể 
thao, các trò vui chơi giải trí. Đặc biệt cần đảm bảo các dịch vụ phục vụ nghỉ ngơi, các 
nhà nghỉ bên hồ… du lịch nghỉ cuối tuần không nên chỉ bó hẹp ở Thủ đô mà có thể 
vươn ra các vùng phụ cận xung quanh Hà Nội như Tam Đảo, Ba Vì, Hải Phòng, Quảng 
Ninh… 
Có thể mở rộng liên doanh giữa Hà Nội với các cơ sở du lịch vệ tinh nêu trên trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như tổ chức lữ hành. Làm như vậy sẽ mở rộng được địa bàn hoạt động của du lịch Thủ đô, tăng thêm lượng khách, đa dạng hoá các loại hình du lịch và mở rộng qui mô. 
3.2.5. Tạo khả năng tăng trưởng nhanh nguồn du khách 
Khai thác tiềm năng của du lịch Hà Nội có nhiều chỉ số để đánh giá. Trong đó số lượng khách là quan trọng. “Nói đến du lịch là phải nói đến khách, khách vào nhiều là du lịch phát triển. Muốn khách vào nhiều thì sản phẩm du lịch phải hấp dẫn, người làm du lịch phải thanh lịch” [46, tr.1]. 
Do đó sự tăng trưởng của dòng khách có vai trò hết sức quan trọng đến sự phát triển của ngành du lịch. Yêu cầu đó đòi hỏi du lịch Hà Nội phải có chiến lược thu hút khách quốc tế và khách nội địa. Thực tế bất cứ du khách nào mục đích của họ là được tham quan giải trí, tìm hiểu, thưởng thức các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, về lịch sử văn hoá xã hội nơi mình đến, những khám phá về tinh thần mang tính văn hoá đặc sắc khác lạ với quê hương trong đó quan trọng nhất là di sản văn hoá, danh thắng thiên nhiên và phong cách ứng xử… 
 Để tăng nguồn du khách chúng ta cần quan tâm cae hai nguồn khách quốc tế và khách nội địa. 
Khách quốc tế: 
Hà Nội là trung tâm của cả nước với nguồn di tích phong phú, giàu tính dân tộc, 
là thành phố được mệnh danh là thành phố “vì hoà bình”, đồng thời với đường lối đổi 
mới của Đảng và Nhà nước là mở cửa để hội nhập… đó là vận hội mới của du lịch để 
hoà nhập với khu vực, mục tiêu đặt ra với ngành du lịch là phải đổi mới du lịch mang 
tính dân tộc kết hợp với tính hiện đại, không ngừng nâng cao đa dạng hoá chất lượng 
sản phẩm, tạo điều kiện để thu hút khách, góp phần thúc đẩy phát triển một số nghề 
truyrrgn thống, hàng tiêu dùng, các dịch vụ, giải quyết việc làm cho dân nơi có tài 
nguyên du lịch.
Bảng 3.1: Dự báo lượng khách quốc tế đến Hà Nội 
(Theo số liệu thống kê của Sở du lịch Hà Nội) 
Năm Khách quốc tế (Lượt)
2004 950.000
2005 1.050.000
2006 1.120.000
2007 1.250.000
2008 1.360.000
2009 1.480.000
2010 1.600.000
Như vậy theo dự báo trong năm tới, số khách nước ngoài vào Hà Nội sẽ tăng lên hơn gấp rưỡi so với năm 2004. 
Khách nội địa: 
Phát triển du lịch nội địa sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giao lưu giữa các vùng với nhau góp phần nâng cao trình độ dân trí. Với vai trò là trái tim của cả nước, nhu cầu đến Hà Nội tham quan của nhân dân các tỉnh thành những năm qua và năm tới sẽ rất lớn. 
 Theo số liệu thống kê của Sở du lịch Hà Nội , khách nội địa đến Hà Nội như sau: 
Bảng 3.2: Dự báo số liệu khách du lịch Nội địa đến Hà Nội 
Năm Số lượng (Lượt)
2004 3.500.000
2005 3.600.000
2006 3.800.000
2007 4.200.000
2008 4.600.000
2009 5.000.000
2010 5.400.000
Theo ước tính so với khách quốc tế, khách nội địa số lượng thu hút rất lớn. Khách hành hương đến Hà Nội để dự lễ hội, xem triển lãm, vãng cảnh đặc biệt là khách tham quan viếng Lăng Bác, khách đi nghỉ dững mùa hè… Nhu cầu cơ bản của khách là phương tiện vận chuyển từ các địa phương đến nơi tham quan, đòi hỏi phải tổ chức mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ cho khách từ ăn uống, mua sắm tại nơi đón khách một cách thuận lợi. 
Để phát triển và mở rộng thị trường, kinh doanh du lịch phải lấy chữ “tín” làm đầu. Đó cũng là nội dung quan trọng trong chiến lược thu hút nguồn khách. 
3.2.6. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với việc khai thác các giá trị văn hoá đặc trưng phục vụ cho việc phát triển du lịch
Xuất phát từ đặc điểm của du lịch văn hoá, muốn phát triển được phải phụ thuộc 
vào đặc điểm tự nhiên, xã hội, truyền thống văn hoá và điều kiện phát triển kinh tế. 
Phạm vi hoạt động không ngừng mở rộng, khách tiêu dùng cũng đặc biệt, có sự thay 
đổi không ngừng về cơ cấu nguồn khách. Hoạt động du lịch tác động đến nhiều ngành 
đòi hỏi tính toàn diện trong chính sách và giải pháp cũng như sự phối hợp chặt chẽ, 
nhịp nhàng trong công tác quản lý. Từ đặc điểm của du lịch phải nhất thiết nâng cao vai 
trò quản lý của Nhà nước. Nghị quyết 46/CP-TW ngày 14/10/1994 của Chính phủ đã 
chỉ rõ: “Các thủ tục tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách còn phiền hà, sơ hở. Việc quản lý các thành phần kinh tế kinh doanh theo hướng pháp luật chưa được coi trọng”. 
Mặc dù đến nay du lịch Hà Nội đã miễn visa cho sáu nước Đông Nam á và bỏ 
visa đơn phương đối với hai quốc gia là Nhật Bản và Hàn Quốc. Qui chế 849 của Bộ Công An thực hiện năm 2004 đã cho phép khách Trung Quốc được vào tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Song việc quản lý nhà nước đối với du lịch trong thời gian tới vẫn cần tăng cường đổi mới: 
- Sắp xếp các doanh nghiệp các cơ sở kinh doanh du lịch theo đúng hướng chuyên môn hoá nhằm tạo ra sản phẩm du lịch văn hoá có chất lượng hiệu quả. 
- Phối hợp với các ngành hữu quan đổi mới và hoàn thiện chính sách xuất nhập 
cảnh, hải quan, đi lại, lưu trú cho khách du lịch, tiếp cận nhanh với thông lệ quốc tế và quá trình tự do hoá du lịch khu vực. 
- Đổi mới và hoàn thiện những cơ chế, chính sách tự do và quyền tự chủ đầu tư 
kinh doanh du lịch, chống độc quyền tạo sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh 
tế. 
- Đổi mới và hoàn thiện chính sách khuyến khích sách đầu tư và phát triển du lịch ở những khu văn hoá đặc biệt như Hồ Tây, khu Hoàn Kiếm đảm bảo cho các chủ đầu tư có cơ hội phát triển ổn định và có mức sinh lợi như các chủ đầu tư ở các ngành kinh tế khác. 
- Đổi mới cơ chế chính sách thanh toán quốc tế cho khách du lịch, đảm bảo tiện lợi, an toàn. 
Hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng nên quản lý nhà nước về du lịch bao gồm nhiều lĩnh vực. Do đó thành phố cần có những qui định cụ thể và các thức quản lý để vừa khuyến khích vào thành phố nhiều hơn vừa đảm bảo được trật tự kỷ cương trong hoạt động du lịch. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, một số vấn đề hiện nay là việc thực hiện nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý trên địa bàn, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp về các lĩnh vực: quản lý qui hoạch, cấp giấy phép kinh doanh, quản lý hoạt động kinh doanh du lịch, kiểm tra và xử lý các vấn đề xã hội, quản lý khách vẫn còn chồng chéo, chưa làm rõ trách nhiệm quản lý ngành và địa phương. Tăng cường sự quản lý liên ngành và sức mạnh cho bộ máy quản lý chuyên ngành ở thành phố, đồng thời làm rõ hơn trách nhiệm quản lý ở các quận, huyện, nhằm quản lý tốt hơn công tác du lịch ở thành phố. 
3.2.7. Đẩy mạnh các hoạt động maketing, thông tin, quảng cáo và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng cường đầu tư cho hoạt động du lịch 
Thông tin quảng cáo là công cụ phục vụ đắc lực cho sự phát triển du lịch. Về mặt kinh tế, thông tin quảng cáo thực sự đóng góp vai trò xúc tác gắn quan hệ cung cầu tạo ra sức mạnh lớn hơn. 
Cùng với hiệu quả kinh tế, hoạt động thông tin quảng cáo du lịch còn là công cụ 
để phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, trao đổi những kinh nghệm, kỹ năng quản lý 
kinh doanh du lịch và là phương tiện trao đổi hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc 
gia... Như vậy có thể nói công tác thông tin quảng cáo du lịch không thể thiếu vắng đối 
với sự phát triển du lịch. Do đó cần có cơ chế, chính sách tạo các nguồn kinh phí phục 
vụ cho các chương trình thông tin quảng cáo, maketing... xây dựng thương hiệu của du 
lịch Hà Nội. 
Tổ chức nghiên cứu đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ tiêu chí của phát triển du lịch ở từng vùng để làm cơ sở định hướng cho các hoạt động xúc tiến thông tin quảng cáo du lịch
Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường du lịch ở từng vùng, phân loại từng loại hình du lịch
Thành lập các trung tâm thông tin về du lịch 
Các trung tâm thông tin này không những là nơi cung cấp, giới thiệu sản phẩm 
du lịch mà còn là nơi truyền bá phổ biến các qui định, các kiến thức về khai thác và sử 
dụng tài nguyên cho khách du lịch và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thức về 
tài nguyên du lịch, môi trường và hướng phát triển du lịch của từng địa phương, từng 
vùng. Đồng thời đây cũng là trung tâm điều phối hoạt động cả vùng du lịch và giám sát 
khách. 
3.2.8. Giải pháp về đào tạo nhân lực cho hoạt động du lịch và văn hoá 
Cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và xây dựng cơ chế chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển du lịch và văn hoá. 
Tổ chức đào tạo nhân lực du lịch phải theo hướng tập trung và chuyên môn hoá 
cao, đảm bảo chất lượng toàn diện từ đội ngũ giảng dạy đến người tham gia công tác trong lĩnh vực du lịch
Tuyển dụng, bố trí cán bộ đảm bảo đúng nguyên tắc công khai, dân chủ, đúng 
người đúng việc. Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các chính sách cán bộ từ việc tuyển 
dụng, sắp xếp sử dụng đến chế độ đãi ngộ, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, ưu tiên sử 
dụng cán bộ có kiến thức, trình độ và kinh nghiệm cao về lĩnh vực văn hoá du lịch
Cần phải đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng những tri thức, kiến thức về phát triển du lịch bền vững nói chung và bảo tồn phát triển nguồn tiềm năng thiên nhiên, các giá trị và di sản văn hoá, coi đó là một trong những tiêu chí đánh giá và là thước đo đối với trình độ năng lực tổ chức và quản lý du lịch của cán bộ. 
Đẩy mạnh công tác đào tạo lại và đào tạo mới để giải quyết yêu cầu trước mắt và chuẩn bị cho lâu dài. Thực hiện phương châm nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng làm để đào tạo lại và bồi dưỡng lực lượng lao động trong du lịch
Trong hệ thống đào tạo cần định hướng phát triển đồng bộ cả về chất cũng như việc giáo dục - đào tạo con người ở các trình độ: Phổ thông, dạy nghề, đại học và trên đại học. Coi giáo dục là môi trường cần được ưu tiên hàng đầu trong giáo dục cộng đồng vì sự phát triển bền vững và phát triển đồng bộ cho xã hội. 
Xây dựng các chiến lược tổng thể phát triển nguồn lực phù hợp với nhu cầu phát triển ngành du lịch gắn với phát triển văn hoá, coi vấn đề nguồn lực con người và chất lượng con người là yếu tố quyết định việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước: “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.” 
Tạo điều kiện cho cán bộ quản lý ngành du lịch và văn hoá được học tập kinh nghiệm quản lý và khai thác tài nguyên tại các nước, các vùng trong khu vực và trên thế giới phục vụ cho phát triển du lịch
 Mở rộng qui mô đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Hà Nội và trường Cao đẳng du lịch Hà Nội, đáp ứng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch và văn hoá ở Thủ đô. 
 Kết luận 
Ngày nay, văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đối với du lịch, văn hoá càng có vai trò và vị trí quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh chóng và bền vững của du lịch
Văn hoá và du lịch là hai lĩnh vực có mối quan hệ mật thiết với nhau. Văn hoá là điều kiện, môi trường cho du lịch phát triển. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc”, “lấy văn hoá dân tộc làm cơ sở chính cho mọi hoạt động du lịch" [57, tr.5]. 
Để phục vụ một cách thiết thực cho việc thực hiện các chương trình du lịch trên cả nước, trước hết cần phải tiến hành nghiên cứu toàn diện những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu, độc đáo mang nét đặc trưng chung và riêng của mỗi vùng văn hoá để từ đó mới có thể xây dựng được những sản phẩm du lịch văn hoá hấp dẫn phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. 
Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của cả nước, có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên danh lam thắng cảnh, nhiều di sản văn hoá mang giá trị nhân văn vốn có từ lâu đời, có lợi thế về vị trí, có thời cơ để phát triển du lịch. Hà Nội đang phát triển du lịch bằng chính nguồn tiềm năng văn hoá của mình. Song có nhiều mặt còn hạn chế và cản trở việc khai thác tiềm năng văn hoá cho phát triển du lịch. Màng lưới du lịch còn phân tán và chưa được sắp xếp hợp lý, sự quản lý còn chưa thật sự có hiệu quả cao. Sản phẩm du lịch chưa phong phú, đội ngũ nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đây chính là những tồn tại chủ yếu cần được giải quyết để đáp ứng với xu thế phát triển du lịch Thủ đô trong giai đoạn hiện nay. 
Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu: “đẩy mạnh phát triển du lịch, tập trung có chọn lọc một số điểm, khu và tuyến du lịch trọng điểm, giàu bản sắc dân tộc”… và phấn đấu đến năm 2010  “trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” góp phần vào xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh hiện đại. 
Trong những giải pháp để tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong 
thời kỳ đổi mới, vấn đề mấu chốt là phải biến tiềm năng văn hoá thành những sản phẩm 
du lịch phong phú và hấp dẫn để tạo khả năng thu hút nguồn khách du lịch. Hà Nội có nhiều tiềm năng văn hoá cho phát triển du lịch như vùng Cổ Loa, vùng Hồ Tây, khu vực Hồ Hoàn Kiếm… Đây là những trung tâm giao lưu văn hoá đặc sắc chúng ta cần nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ về quản lý và điều hành du lịch đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, khai thác tốt các tiềm năng văn hoá cho phát triển du lịch ở Thủ đô. 
Phát triển du lịch cần có sự phối hợp của nhiều ngành, trong đó ngành văn hoá 
có vị trí rất quan trọng. Văn hoá và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ, thúc 
đẩy nhau cùng phát triển. Có thể nói ngành du lịch phát triển tạo điều kiện cho du 
khách tiếp cận với các giá trị văn hoá ở mỗi vùng đất. Nhưng nếu du lịch chỉ khai thác 
mà không chú trọng đến việc bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hoá thì các giá trị văn hoá 
dễ dàng xuống cấp hoặc biến dạng… Do đó ngành du lịch phải quan tâm đầu tư về 
nhân lực, tài lực, vật lực cho công tác bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá, góp phần 
cùng ngành văn hoá bảo tồn, tôn tạo, phát huy tốt các di sản văn hoá phục vụ cho hoạt 
động du lịch nói riêng, cho sự phát triển kinh tế- xã hội ở Thủ đô nói chung.

(Liên hệ Ashley Nguyen)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét