Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Luận văn du lịch Danh Sơn Tam Đảo

DANH SƠN Tam Đảo
            Danh sơn Tam Đảo đứng giữa vùng Trung du, dài hơn 50km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) kéo dài tới các huyện Kim Anh, Đa Phúc cũ (nay là huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội), làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc.Tam Đảo">Tam Đảo
có trên 10 đỉnh cao trên dưới 1.400m; riêng đỉnh núi Giữa, giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc cao nhất 1.529m. Đến cuối dãy, núi hạ thấp khá đột ngột, ở ngang Đèo Nhe chỉ có 600m và tới Kẽm Dõm có 300m, rồi lặn dần, hoà vào đồng bằng Sóc Sơn.
Tam Đảo


            Núi được gọi là Tam Đảo vì ở khoảng giữa dãy có 3 ngọn núi cao vút trông như 3 hòn đảo nổi bồng bềnh giữa biển mây bao phủ. Ba ngọn đó từ Tây Bắc xuống Đông Nam là Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị.
Đỉnh Phù Nghĩa có nghĩa là giúp việc nghĩa, cao 1400m. Tên này tương truyền do Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương đặt.
            Đỉnh Thạch Bàn cao 1388m, có nghĩa là bàn đá. Gọi như thế vì đỉnh núi có một tảng đá lớn phẳng như mặt bàn.
            Thiên Thị có nghĩa là Chợ Trời, cao 1.375m; trên đỉnh núi có một khoảng bằng phẳng rải rác có những tảng đá thấp cao, trông như “người trời” xuống họp chợ.
            Bao trùm lên danh sơn Tam Đảo là bạt ngàn rừng nguyên sinh á nhiệt đới đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định bảo vệ và xây dựng thành Vườn Quốc gia Tam Đảo. Nằm trong Vườn Quốc gia Tam Đảo có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - văn hoá có giá trị, giá trị bậc nhất là quần thể di tích danh thắng Tây Thiên và khu nghỉ mát Tam Đảo.
Tam Đảo

            Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số 136/TTg ngày 6/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 601/NN-TCCB/QĐ ngày 15/5/1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
            Tổng diện tích Vườn Quốc gia Tam Đảo có 36.883 ha nằm trên địa bàn 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Phần đất lâm nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giao cho Vườn Quốc gia Tam Đảo là 15.428,55ha nằm trên địa bàn các huyện: Lập Thạch 5.391,99ha, Tam Dương và Bình Xuyên 9.932,65ha, thành phố Vĩnh Yên 103,91ha.
Tam Đảo

            Rừng trong Vườn Quốc gia Tam Đảo có 4 hệ sinh thái:
            Hệ sinh thái dân cư, làng xã: Đặc trưng là rừng phân tán, cây trồng mới hoặc tái sinh, tỷ lệ che phủ rất thấp, từ 1-5% diện tích khu vực.
            Đây là hệ sinh thái rừng nghèo, đa dạng sinh học bị mất nhiều. Một phần đồi thấp được sử dụng trồng sắn, mía, cây ăn quả…
            Hệ sinh thái rừng kín, thường xanh, mưa mùa nhiệt đới:
            Đây là hệ sinh thái rừng đặc trưng ở Tam Đảo, phân bố từ độ cao 100 đến 700 - 800m. Rừng có 3 tầng cao: Tầng cây cao 15-20m chiếm ưu thế, tầng trung bình từ 8-15m ít hơn và tầng thấp nhỏ hơn 6m. Hệ cây cao có các loại trám, gội, bời lời, xoan nhù; trung bình có ngát, thị rừng; thấp có cà phê, trúc đào, đơn nem.
Tam Đảo

            Hệ sinh thái rừng kín, thường xanh, mưa mùa á nhiệt đới: Phân bố từ 800m trở lên đỉnh phân thuỷ. Hệ sinh thái này nằm trong khu nguyên sinh cần bảo vệ nghiêm ngặt. Rừng có độ che phủ cao, đa dạng sinh học khá phong phú, cây xanh quanh năm, có khí hậu á nhiệt đới rõ rệt, phát triển nhiều tầng cao khá phong phú về chủng loại và số lượng thuộc loại rừng giàu và trung bình.
            Hệ sinh thái khu du lịch: Phân bố ở độ cao 1.000-1.200m, có tính chất chuyển tiếp pha trộn, gần giống hệ sinh thái á nhiệt đới do quá trình du lịch, một số khoảnh rừng bị con người tác động, tu sửa làm đường, mở rộng xây dựng, quy hoạch lại… nên đặc trưng rừng bị huỷ hoại và độ che phủ thấp (15-20%), chủ yếu là tầng thấp 5-10m.
Tam Đảo

            Trữ lượng rừng ở Tam Đảo có 3 loại. Diện tích rừng nghèo chiếm 55% tổng diện tích khu vực; trạng thái rừng giàu chiếm khoảng 5% phân bố ở sườn núi cao từ 800m trở lên.
            Về hệ thực vật có 130 họ, 344 chi và 490 loài phân bố ở 3 nhóm thực vật:
            - Nhóm quyết thực vật có 21 họ, 32 chi và 53 loài.
            - Nhóm thực vật hạt trần có 7 họ, 7 chi và 11 loài.
            - Nhóm thực vật hạt kín có 102 họ, 305 chi và 426 loài.
            Về hệ động vật có 26 bộ, 86 họ, 281 loài thuộc 4 lớp chủ yếu.
            Lớp lưỡng cư có số bộ, họ và loài ít nhất, có 19 loài chiếm 6,7%. Trong lớp này, có loài cá cóc Tam Đảo có giá trị khoa học cao, đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.
            Lớp bò sát có số loài trung bình, tổng số 46 loài, chiếm 25,8% tổng số. Một số loài thường gặp như Tắc kè, thằn lằn, Kỳ đà…
            Lớp chim có số loài nhiều nhất, 158 loài, chiếm 25,8% tổng số. Một số họ có số loài đông như gà lôi, chim chích, chào mào, chích choè, khướu…
            Lớp thú có số loài trung bình là 58 loài, chiếm 25,8% tổng số. Một số loài thú lớn như: Gấu, báo, hổ, nai trước đây số lượng khá lớn nhưng đến nay còn rất ít; chủ yếu loài nhỏ như chuột, cầy, sóc…
            Một số động vật đặc hữu và quý hiếm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo có giá trị khoa học cao là: Cá cóc Tam Đảo, rùa vàng, gà lôi trắng, gà tiền, cheo cheo, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch…
Tam Đảo

KHU NGHỈ MÁT Tam Đảo

            Đối với Tam Đảo, các nhà chuyên môn, qua nghiên cứu khí hậu và môi trường đã nhận định: “Tất cả những điều kiện cần thiết cho một viện điều dưỡng trên núi đều hội tụ đầy đủ ở khu suối Bạc. Trước hết là nước lành: Các cuộc thử nghiệm y tế vệ sinh đều chứng minh ở đây không có bệnh sốt rét rừng. Tiếp đến là khí hậu mát mẻ: Trong những ngày trời nóng, nhiệt độ thường thấp hơn ở Hà Nội 100C. Cuối cùng là phong cảnh rất ngoạn mục”.
            Khu nghỉ mát Tam Đảo, người Pháp đã xây dựng ở đây 145 toà biệt thự nguy nga lộng lẫy từ sức lao động, mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của “phu phen” người bản xứ, của tù thường phạm và anh em tù chính trị. Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Pháp, khu nghỉ mát đã bị phá hỏng. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1955, Nhà nước ta bắt đầu phục hồi khu nghỉ mát. Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, ta mới làm một số nhà nghỉ bằng gỗ ghép, kiến trúc kiểu nhà sàn dân gian cách điệu hoá mà lại giống kiểu nhà miền núi Châu Âu, trang nhã, hài hoà với núi rừng xung quanh.
            Từ năm 1969 trở đi, mặc dù cuộc chống Mỹ cứu nước còn ác liệt, ta vẫn cố gắng xây dựng những công trình như Nhà khách Chính phủ, Khách sạn du lịch 4 tầng, Nhà nghỉ Công đoàn 3 tầng…
            Từ ngày đất nước thống nhất, nhất là trong gần hai chục năm đổi mới, khu nghỉ mát Tam Đảo được xây dựng với tốc độ nhanh; nhiều công trình được kiến thiết hiện đại, như Nhà khách Bộ Văn hoá, khách sạn “Cây thông”. Nhân dân cũng xây nhiều khách sạn, nhà nghỉ cao tầng.
Tam Đảo

            Khu nghỉ mát là một thung lũng tròn, điểm trung tâm nằm trên vĩ độ 21024', kinh độ 105038' đường kính khoảng 2km, tựa lưng vào núi Máng Chì; bên trái Máng Chì (đứng cửa lũng nhìn lên) là núi Nhà Thờ; bên phải Máng Chì là núi Mỏ Quạ. Cửa lũng nhìn về phía Nam, trông xuống đồng bằng. Dòng suối Bạc từ trên núi chảy xuống chia lũng làm hai phần gần đều nhau, rồi đổ qua cửa lũng thành một dòng thác cao. Đó là thác Bạc, cao 130m, thác đổ làm 3 bậc, nhưng từ chân thác nhìn lên thì chỉ thấy một bức tường nước trắng xoá cao 40m. Nước dội xiết trên vách đá, tung ra một màn hơi nước mát rượi, phản chiếu ánh mặt trời long lanh 7 sắc cầu vồng. Du khách đến gần thác Bạc đã nghe tiếng nước đổ ào ào. Đứng trong lòng thác, nước đổ xuống quạt gió ra phần phật.
            Trung lũng, các nhà nghỉ, khách sạn, biệt thự… nằm rải vòng tròn từ độ cao 930m đến 970m so với mặt nước biển. Từ đây nhìn xuống những ngày trời quang mây tạnh, sẽ thấy cả một vùng nước non mỹ lệ hiện ra. Dạo chơi quanh khu nghỉ mát, rất dễ bắt gặp những cây dương xỉ thân gỗ mọc la liệt, loại cây ra đời từ đại Trung sinh trên thế giới gần như tuyệt giống, nay ở nơi nào còn sót đều được xem là "kỳ quan" của thiên nhiên; cũng có thể nhìn thấy sóc bay, hoàng anh, vẹt… trên cây hoặc rùa hộp, cá cóc… ở khe suối.
            Cùng với cảnh đẹp, cái quý giá của khu nghỉ mát là khí hậu trong lành.
            Do khí trời Tam Đảo trong trẻo, ít hơi nước, không bụi bậm, không khí loãng hơn, khí áp thấp hơn chân núi, du khách lên đến khu nghỉ mát thấy dễ chịu, thoải mái, nhẹ nhàng.

DANH THẮNG TÂY THIÊN

            Theo thần phả đền Tây Thiên, khu danh thắng này có từ thời Hùng Triệu Vuơng. Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn (1723-1783) ghi: Núi Tam Đảo ở địa phận hai xã Lan Đình và Sơn Đình huyện Tam Dương. Mạch núi này do khí thế cao cả của các núi ở xã Kỳ Phú, Huân Chu và Cát Nê thuộc huyện Phú Lương và Đại Từ, trấn Thái Nguyên kéo đến. Đến đây đột khởi 3 ngọn cao vót đến tận mây xanh; phía sau núi, vách đá đứng sững; đỉnh núi thì đất đá lẫn lộn, cây cối rậm rạp xanh tươi, nhiều cây hồi hương và cây quế; chân núi, ở đằng trước, về bên tả có khe Giải Oan, tức là thượng lưu sông Sơn Tang huyện An Lạc, từ khe Giải Oan này chảy xuống Sơn Tang, qua Hương Canh, chảy ra Nam Viêm rồi vào sông Nguyệt Đức; ở giữa ngọn núi gọi là núi Kim Thiên, cao chót vót, ghềnh thác không biết bao nhiêu mà kể. Bên dưới sắc nước như chàm, sâu thẳm không trông thấy đáy; sườn núi có chùa Tây Thiên, tre xanh thông tốt, cảnh sắc thanh nhã; trên đỉnh núi cao có chùa Đồng  Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất 2 ngày.
            “… Tam Đảo, thế núi liên miên, về phía Đông là các núi Độc Tôn, Ngọc Bội và Thanh Lanh, về phía Tây là núi Bông, núi Trữ Lai, núi Lịch và khe Nhân Túc. Khe Nhân Túc, tục gọi là khe chân người, nước khe từ trong núi Che Tai (Yểm Nhĩ) và núi Ngọc Bội từng đoạn từng đoạn chảy ra qua núi Thanh Lanh gồm 99 khúc. Núi Cổ Cò ở phía núi Ngọc Bội và Bàn Long, chồng chất tầng tầng lớp lớp, trong ấy lại có núi Huân Bông, núi Phi, núi Thiên Thị và núi Đát Ma, đều rất nguy nga, hiểm trở”.
            Cũng theo Ngọc phả và kết quả nghiên cứu mới nhất, Tây Thiên là nơi thờ nữ chúa Tam Đảo: bà Lăng Thị Tiêu. Sau khi giúp Nhà nước Văn Lang đánh giặc ở thành Phong Châu, bà đã kết duyên cùng Lang Liêu (vua Hùng thứ 6). Bởi vậy sắc phong các triều đại phong kiến tôn bà là “Quốc Mẫu Tây Thiên”. Huyền thoại kể rằng bà vốn là một trong bảy nàng tiên xuống núi để chữa bệnh cho dân, trừ bạo nghịch cho nước và cứu độ chúng sinh. Câu chuyện Quốc Mẫu được ghi chép trong Ngọc phả, trong các văn bia hệ thống đền chùa Tây Thiên, là sự uy linh và vẻ đẹp đức độ của bà khiến cho các bậc anh hùng hào kiệt, các thiện nam, tín nữ, các trai thanh gái lịch bao đời nay đã phải trèo non lội suối chống gậy Tây Thiên ngưỡng cảnh bồng lai.
            Mấy thế kỷ đã trôi qua, Vườn tiên, Hồ sen, Am gió, Thang mây… và bao di tích khác không còn nữa. Chùa Đồng Cổ, một ngôi chùa đúc toàn bằng đồng, chiều rộng 0,6m, chiều dài 0,8m và cao 0,6m được đặt ở đây ít nhất cũng từ đời nhà Trần (TK XIII - XIV); trong chùa có một pho tượng bằng đồng trong tư thế đang nằm nghỉ đầu hướng về phía Bắc; lại có một quả chuông và một cái chiêng nhỏ cũng bằng đồng. Thứ gì cũng bằng đồng đúc, nắng mưa bão táp không thể hủy hoại được thì đến đầu thế kỷ XX đã bị người Pháp lấy đem đi mất.
            Những ngôi chùa cổ như chùa Tây Thiên, chùa Phù Nghì, chùa Đồng Cổ… chỉ còn lại những hệ thống kè đá để tạo mặt bằng xây dựng, có nhiều đường dài 200-300m, cao 11,5m hoặc đống gạch ngói cao trên một mét do chùa đổ sập xuống vẫn còn nguyên như cũ, hoa văn gạch ngói có niên đại Lý - Trần.
            Chùa Thượng Tây Thiên còn 10 pho tượng cổ, trong đó có cả tượng đồng, 1 khánh đồng dài 1,3m, cao 1,1m đúc năm Cảnh Thịnh (1794), 2 bia đá, 1 chuông đồng cổ của chùa Phù Nghì.
            Chùa Tây Thiên và chùa Phù Nghì còn nhiều cây thông già trên 1000 năm tuổi, đường kính thân trên 1m.
            Trong đền Thượng còn có 2 bức nghi môn bằng gỗ chạm nổi cảnh “Nhạc công - Thiên thần”. Đây là 2 bức phù điêu cổ có kích thuớc lớn nhất và nội dung độc đáo nhất trong sưu tập điêu khắc gỗ dân gian ở Vĩnh Phúc. Hai bức nghi môn được làm bằng nhiều mảnh ván nhỏ ghép lại thành hình chữ U để ngược, chắn ở điện thờ; mỗi bức rộng 2,5m2, trên chạm nổi 11 người đang cử nhạc và múa hát trong mây. Những hình người này đều là nữ, đầu đội mũ miện, khuôn mặt đẹp, thanh tú, mình mặc áo thụng, cổ và ngực có trang trí những giải lụa toả ra. Phủ kính toàn bộ hai nghi môn này là các hình mây cụm, hoa lá dày đặc, điểm trong đó có các hình phượng đang bay và rùa với hoa sen. Kỹ thuật chạm nổi rất tinh tế. Những đường nét, hình hài uốn lượn nhịp nhàng, tạo nên một khung cảnh sống động. Nhìn những thiếu nữ xinh đẹp, những con vật ngộ nghĩnh, tự nhiên như đang chuyển động bồng bềnh trong biển mây và rừng hoa lá chốn thiên đường. Bức phù điêu phản ánh những ước vọng về một cuộc sống thanh bình hạnh phúc của nhân dân. Đây là một di sản độc đáo còn lại ở Vĩnh Phúc, hiếm thấy ở các đền chùa khác trong tỉnh.
Tam Đảo

            Cảnh quan thiên nhiên ở Tây Thiên từ cổ đến kim đều được ca ngợi là “kỳ tuyệt”.
            Cái xuyên  suốt của những phong cảnh kỳ tuyệt ấy là tính hoang sơ của núi rừng. Có những danh thắng như am Vân Tiêu, am Lưỡng Phong, cầu Đái Tuyết… chỉ thấy mô tả trong sách xưa. Nổi bật hơn cả hiện nay là Thác Bạc, từ dòng suối Bát Nhã chảy xuống, cao 40m. “Xuống Thác Bạc, trước cảnh hoang sơ của Thiên nhiên cùng với khí trời mát rượi và ánh sáng mông lung của chân thác, ta có cảm giác như đến một “thế giới khác”, rất huyền ảo khác với “trần gian”.
            Khu danh thắng Tây Thiên đã được Bộ Văn hoá - Thông tin cấp bằng di tích lịch sử văn hoá 1991.
           

NÚI SÁNG

            Núi sáng ở địa phận 2 xã Đồng Quế, Lãng Công (huyện Sông Lô) cao 633 m so với mực nước biển.
            Trên núi Sáng có một ngọn gọi là Bách Bung. Sách "Vân đài loại ngữ" giải thích lý do đặt tên Bách Bung như sau: Núi Sáng là ngọn cao nhất trong dãy núi Lịch, có 5-6 chỗ bằng phẳng  như cung điện, có đền thờ Đế Thuấn. Xứ Ngòi Vực về bên phải, hàng năm nước sông Lô tràn vào, tương truyền chỗ ấy là bến sông ngày trước thường nặn đồ nung. Bên cạnh chỗ dân cư, có một cái giếng cổ, người ta cho là Đế Thuấn đào giếng ấy. Ở đây cũng có miếu thờ Đế Thuấn, trước miếu có ruộng chiêm, rộng chừng vài mẫu, khá sâu, người ta cho đấy là chằm Lôi Trạch, ngày trước Đế Thuấn cày ruộng và đánh cá. Trên núi Sáng cũng có đền thờ Đế Thuấn. Đằng trước núi lại đột khởi một ngọn núi đất hơi thấp, đỉnh núi như hình ghế chéo, trong núi có chỗ rộng ước dăm sào, có thể gieo được trăm bung mạ (nhổ mạ lên rồi buộc lại gọi là đon, mỗi đon phỏng 2,3 chét tay, 40 đon là một bung, bung là xâu những đon mạ gánh ra ruộng để cấy; thông thường khi xưa, cứ mỗi sào ruộng cấy 15-20 đon, trăm bung là 4000 đon gieo khoảng 5 sào. Tương truyền chỗ ấy Đế Thuấn cấy lúa, nhân dân mới gọi là Bách Bung).
Tam Đảo

            Trên núi Sáng có cảnh đẹp vừa hùng vĩ vừa ngoạn mục, dân trong vùng thường gọi là Thác Bay. Từ đỉnh núi có một dòng suối chảy xuống tạo ra nhiều thác ghềnh, có đến 4 cái liên tiếp nhau. Thác Bay là tên của ngọn cao nhất được lấy làm tên gọi chung.
            Cảnh quan thiên nhiên Vĩnh Phúc thật là giàu danh thắng. Mỗi danh thắng thường gắn bó hữu cơ với một di tích lịch sử văn hoá, khiến du khách vừa có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp, vừa tham quan di tích, vừa có dịp để suy ngẫm về những triết lý của người xưa.
                                                                        *
                                                            *                       *
            Hơn 30 dân tộc sinh sống từ xa xưa ở Vĩnh Phúc đã làm nên một vùng văn hoá đa dạng, phong phú. Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian khi nói đến Vĩnh Phú trước đây, thường chia thành 3 khu vực Văn hoá dân gian.
            Khu vực Hùng Vương:
            Thanh Hoà, Phú Thọ, Phong Châu, Việt Trì, Lập Thạch, một phần Tam Dương khu vực đền Tây Thiên, thờ Quốc Mẫu (Lăng Thị Tiêu).
            Khu vực Thánh Tản:
            Tam Thanh, Thanh Sơn, Sông Thao.
            Khu vực Hai Bà Trưng:
            Một phần Lập Thạch, Tam Dương, Mê Linh, Vĩnh Yên, Vĩnh Tường, Bình Xuyên, Yên Lạc.
            Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong  2 khu vực là khu vực văn hoá dân gian Hai Bà Trưng và khu vực văn hoá dân gian Hùng Vương. Trong đó chủ yếu là khu vực văn hoá dân gian Hai Bà Trưng. Ở khu vực này, ngoài các hình thức sinh hoạt phong phú gắn với phong tục, tập lễ… của từng làng xã, còn có nhiều trò diễn kể lại chiến tích của Hai Bà Trưng và các nữ tướng của Hai Bà:
Tam Đảo

            - Ở làng Nhật Chiểu (Liên Châu, Yên Lạc) thờ Khâu Ni công chúa, nữ tướng của Hai Bà, có tục nửa đêm 17 tháng giêng "Hoan Thanh" ba lần, mọi người tập trung ở đình làng, theo tiếng trống cái và hiệu lệnh cờ múa, người khua chuông, người đánh trống, thổi tù và, rung nhạc ngựa, đàn sáo, hò reo (người không có nhạc cụ thì gõ mâm, bát, chậu…) tượng trưng cho khí thế xuất quân diệt giặc Tô Định.
            - Ở làng Hạ Lôi (Mê Linh) có đền thờ Hai Bà - Hàng năm mở hội vào tháng giêng âm lịch - làng tổ chức một đám rước gồm 150 thanh niên và 150 thiếu nữ được kén chọn rất kỹ, tượng trưng cho quân của Hai Bà.
            - Hai làng Lũng Ngoại và Hoà Loan (xã Lũng Hoà, Vĩnh Tường) thờ nữ tướng của hai bà là Lê Thị Ngọc Trinh, có tục kéo co và hú đáo - trò chơi gợi lại một sự kiện trong chiến đấu…
            - Riêng làng Thượng Lạp (Tân Tiến, Vĩnh Tường) lại thờ một nam tướng của Hai Bà, đó là danh tướng Cao Nguyên, đóng quân ở Mê Linh. Khi Hai Bà bị Mã Viện đánh ở Hát Môn (thuộc Phúc Thọ - Sơn Tây cũ), Cao Nguyên tử trận, xác trôi về Vĩnh Tường, được dân làng Thượng Lạp vớt lên lập đền thờ. Hàng năm vào mùa xuân dân làng mở hội tế lễ để tưởng nhớ ngài. Đặc biệt có trò đánh phết, rất vui, rất ồn ào náo nhiệt gợi lại không khí diễn trận năm xưa.
            Tóm lại, nhìn vào diện mạo chung của các sinh hoạt văn hoá dân gian Vĩnh Phúc, ta có cảm giác và ấn tượng thật đẹp: Tất cả văn hoá dân gian ở đây đều khúc xạ lịch sử của một vùng đất cổ.
            Trong sự phong phú ấy, văn hoá dân gian ở Vĩnh Phúc được thể hiện khá đặc sắc trong một số thể loại như: Tục ngữ và Thơ ca dân gian, truyện kể dân gian, cổ tích thế sự và truyện làng. Thể loại nào cũng mang đậ m chất truyền thống, phản ánh sâu sắc đời sống thực của con người qua bao thế hệ cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
            Tìm hiểu văn hoá dân gian Vĩnh Phúc cũng là một cuộc hành hương tìm về cội nguồn dân tộc bằng rất nhiều con đường: Văn học dân gian, mỹ thuật dân gian, âm nhạc dân gian, trò diễn hội làng…
            Đặc biệt, trong đời sống của người dân Vĩnh Phúc, từ bao đời nay đã lưu truyền nhiều TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VÀ TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ rất hay và luôn gắn liền với cội nguồn dân tộc.Xin điểm qua một số truyền thuyết tiêu biểu:  
            Truyền thuyết về người con gái núi Tam Đảo.
            Chuyện kể rằng trên núi Tam Đảo có một người con gái khoẻ mạnh che thân bằng vỏ cây, làm lều ở trên cây, đi lại truyền nhảy nhanh như con sóc, nhẹ như vượn, nhặt đá ném thú rừng và chim muông sống.
            Giặc Ân sang cướp nước ta, thế giặc rất mạnh. Vua Hùng cho sứ đi các trang động trong nước cầu người ra dẹp giặc. Người con gái xuống núi về chầu vua, xin được đi đánh giặc. Ra trận chỉ lấy đá mà ném, giết được nhiều giặc, đánh với giặc nhiều trận ở ngay cửa ngõ thành Phong Châu, ngã ba Bạch Hạc (nay thuộc là địa phận huyện Vĩnh Tường).
            Khi tan giặc, người con gái lại trở về núi.
            Vua Hùng thứ 6 truyền ngôi cho Lang Liêu. Lang Liêu lên ngôi, nghe dân gian đồn rằng núi Tam Đảo có tiên nữ rất xinh đẹp, Lang Liêu lên núi cầu mong gặp tiên.
            Ngày hôm sau, vua thấy thần báo mộng sáng mai sẽ được gặp tiên và vua sẽ lấy tiên làm vợ.
            Đêm ngủ ở núi, vua thấy bồn chồn chờ đợi tới mặt trời đứng bóng, chợt thấy một người con gái từ xa đi đến, mình mặc vỏ cây, vai vác một con thú rừng máu rỏ đỏ tươi. Người con gái đặt con thú xuống chân vua và cất lời chúc mừng nhà vua. Vua nhìn ngắm thấy người con gái ấy đúng là cô gái trước đã theo cha đánh giặc Ân. Người con gái đứng trước mặt vua, mắt sáng long lanh, gương mặt tươi tắn đỏ hồng, vóc dáng xinh đẹp, khoẻ mạnh. Vua rất đẹp lòng, đón về cưới làm vợ.      
             Truyền thuyết về Đinh Thiên Tích
            Ở Bích Đại và Đồng Vệ vào thời vua Hùng có một con trai tên là Đinh Thiên Tích, có sức khoẻ khác thường, nắm tay lại đấm vỡ tan được hòn đá lớn. Trong nước có giặc, chàng rủ những trai tráng cùng đi đánh giặc. Đánh chưa được, chàng lại về làng rủ thêm người. Nửa đêm về tới làng đói bụng, mới tìm đến nhà một bà cụ già ở cuối làng xin ăn. Ăn xong, chàng tìm dân làng rủ đi đánh giặc tiếp.
            Khi đuổi xong giặc, Đinh Thiên Tích cùng dân binh trở về làng, đâm trâu ăn mừng. Nhân cuộc vui, dân làng nói với Tích tìm cách cho làng mỗi ngày một thêm đông người nhiều của.
            Đinh Thiên Tích bày ra một phép rước cầu. Mọi người mặc quần áo xanh đỏ vác cày bừa và trâu bện bằng rơm rước đi. Lại làm một cái chòi, một cụ già nhất trong làng cầm một cái túi đựng thóc ngô, đỗ, kê trèo lên chòi khấn trời đất phù hộ rồi tung các thứ hạt đó ra cho mọi người nhặt. Tiếp theo cụ già lại tung các cái dùi và mo đẽo bằng gỗ vông cho mọi người cướp, gọi làm như thế là cướp con. Ai cướp được thì năm đó sẽ sinh con.
            Dân đều tin, dâng lễ tế trời đất và làm theo.
            Truyền thuyết về các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng.
            Tỉnh Vĩnh Phúc có gần 40 làng thờ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng, phần lớn là nữ tướng. Nhân dân địa phương thường kể lại nhiều truyền thuyết về các vị.
            Xin dẫn một truyện kể về Vĩnh Hoa công chúa, xưa là Nội Thị tướng quân của Hai Bà Trưng, hiện được thờ ở đình thôn Nghinh Tiên, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc.
            Thời nước ta bị Đông Hán đô hộ, ở đạo Hồng Châu (Hải Dương bây giờ) trang Mao Điền có người con gái họ Phùng tên là Vĩnh Hoa, từ nhỏ được học tập võ nghệ lại đọc sách ngâm thơ, người người biết tiếng. Vĩnh Hoa thường nói: "Lưỡi kiếm trong tay phải tắm máu giặc, có ngày quét sạch giặc Hán ra khỏi bờ cõi, chí lớn của ta là như thế !".
            Năm Vĩnh Hoa 18 tuổi, bố mẹ đều theo nhau qua đời. Vĩnh Hoa trao cả di sản cho ông cậu rồi một ngựa một kiếm lần bước ra đi.
            Đến trang Tiên Nha thấy địa thế rất đẹp, như con rùa lớn nổi lên trên dòng sông Nguyệt Đức, phong cảnh thật hữu tình, có bến có chợ, làng xóm đông vui, Vĩnh Hoa cho rằng nơi đây có thể lập được chí mình, mới nghĩ lại, bỏ tiền ra làm nhà, mua ruộng… Lại nghĩ nơi đây các thuyền buôn qua lại, chợ búa sầm uất, có thể liên kết được các hào kiệt bốn phương, mới mở ngôi hàng nước tự mình bán hàng để tìm kiếm những người cùng chí hướng.
            Nhiều trai đinh đến gặp Vĩnh Hoa, xin quy phục làm thần tử, tôn Vĩnh Hoa làm trưởng trang… Vĩnh Hoa vui lòng nhận lời.
            Từ đó, Vĩnh Hoa chiêu dân lưu tán các nơi, đón những kẻ bị ức hiếp mà phải rời quê hương bản quán và mở rộng trang ấp, ngầm nèn đúc khí giới, chứa cất lương thực để đợi thời cơ. Thanh thế Vĩnh Hoa ngày càng lừng lẫy. Vĩnh Hoa chọn mười cô gái võ nghệ có mưu trí làm thủ túc, ngày đêm gần gũi bên mình. Lúc ấy nam binh nữ tốt đã có tới ngàn người, Vĩnh Hoa mới cắt cử các đầu mục, chia thành đội ngũ, cày ruộng lấy lương ăn, tự rèn lấy gươm sắc giáo dài, tự chế lấy nỏ bền tên cứng. Các phụ lão đều nói: "Chúng ta may ra còn thấy được cảnh tượng thái bình, trời đất này quang sạch chăng? Chắc cái ngày ấy cũng gần tới rồi, chúng ta phải cố sống !".
            Không thể chần chừ được nữa, Vĩnh Hoa bèn cho giết lợn mổ trâu, cáo tế các thần sông núi, khao thưởng quân sĩ, thổi sáo đánh trống, múa hát làm vui, rồi đào hào đắp luỹ địch với quân Hán.
            Một hôm Vĩnh Hoa đang coi quân tập bắn nỏ, chợt có nữ tốt vào báo có người lạ xin đến ra mắt để bàn việc lớn. Vĩnh Hoa truyền lệnh mời vào rồi chỉnh tề y phục thân tiếp khách. Khách là một người đứng tuổi mặt vuông miệng rộng, mắt sáng như chớp, đi đứng khoan thai. Vĩnh Hoa biết khách không phải người thường, cung kính mời trầu nước, Vĩnh Hoa hỏi khách họ tên gì, Khách thong thả nói: "Khoan hỏi họ tên. Tôi nghe nói Vĩnh Hoa nương là một anh hùng ở đời này, muốn đến cho được biết người, nay mới biết tiếng đồn quả không sai". Vĩnh Hoa nhún nhường, lại xin khách bảo cho điều hay lẽ phải. Sau khi phân tích về thế và lực của địch, về sự phân tán lực lượng của ta, người khách khẳng định: Chỉ đoàn kết lại mới đắnh thắng giặc được… Lúc này, vị khách mới nói tên mình là Nguyễn Tiến Cơ - người thân cận của Ha Bà… Vĩnh Hoa bèn giữ Nguyễn Tiến Cơ ở lại vài ngày nhờ giúp việc chỉnh đốn quân ngũ. Nguyễn Tiến Cơ từ chối, nói rằng: "Chỉ nội ngày mai, sớm tối thế nào Quách Gia Nương cũng kéo quân qua đây về Mê Linh họp mặt với hào kiệt các nơi dưới cờ đại nghĩa của Hai Bà. Nàng cũng nên nhanh chóng đem quân đến không nên chậm trễ".
            Quả nhiên sáng hôm sau, mặt trời vừa tới ngọn sào nứa, giữa dòng sông có một đoàn thuyền lừng lững trôi, sáu chiếc thuyền lớn dong buồm đi một hàng thẳng tắp, xung quanh có hàng chục chiếc thuyền nhỏ cùng xuôi. Trên thuyền đi đầu có một chiếc trống cực lớn, các lực sĩ đứng quanh, đầu chỉ chấm tang trống. Chiếc thuyền đi giữa có dựng một ngọn cờ đại sắc vàng viền đỏ, giáo dựng ở mạn thuyền sáng quắc, hàng chục mái chèo khua sóng, bọt nước tung toé như hoa. Vĩnh Hoa cùng các đầu mục ngắm mãi không chán. Vĩnh Hoa than rằng: "Hàng ngũ chỉnh tề, quân uy hùng tráng ! Ta thật còn thua kém ! Những người như thế mà cùng đứng dậy, giặc Hán tất phải ôm đầu cuốn cờ mà chạy khỏi đất nước Nam".
            Lệnh khởi nghĩa truyền đi cả nước, khắp các châu, các huyện, các làng, các động gươm giáo dựng lên, cờ bay phấp phới. Các thành trì của giặc Hán lần lượt rơi vào tay nghĩa quân. Thủ phủ Luy Lâu của Tô Định tan vỡ trước sức tấn công mãnh liệt của đại quân Hai Bà. Chưa đầy một năm, Hai Bà đã thu hồi được 65 thành trì cõi Lĩnh Nam, lên ngôi vua, đóng đô ở đất Mê Linh, không chịu thần phục nhà Hán.
            Trưng nữ Vương mở tiệc khánh hạ, khao thưởng ba quân, phong cho các tướng có công, Vĩnh Hoa được phong công chúa, cho phép lấy trang Tiên Nha làm thực ấp, cho xây dựng đồn trại bên sông.
            Về sau Mã Viện xin vua Hán cử gấp viện binh sang rồi mở trận đánh quyết liệt ở Lãng Bạc. Hai Bà túng thế rút về Mê Linh. Mã Viện là một tên tướng quỷ quyệt có tài thao lược, mưu kế xảo trá, quân ta cự không lại tan vỡ dần.
            Hai Bà Trưng thế cùng lực tận, tuẫn tiết ở Cẩm Khê.
            Vĩnh Hoa rút về trang Tiên Nha cố sức cầm cự, nhưng biết là không giữ nổi, mới cùng quân thủ túc lên ngựa xông vào trại giặc chém giết một trận rồi tử tiết theo Hai Bà ở sông Nguyệt Đức. Hôm đó là ngày 14 tháng 9.
            Về truyện kể dân gian, cũng có rất nhiều, chỉ xin được lược một số truyện tiêu biểu:

Tục kết nghĩa Yên Bài - Yên Lỗ

            "Làng Yên Bài và làng Yên Mạc xưa thuộc tổng Xa Mạc huyện Yên Lãng (nay thuộc huyện Mê Linh…). Yên Bài và Yên Mạc tranh nhau địa giới, không xã nào chịu xã nào. Dân Yên Mạc tranh lấy được chỗ có hòn đá lớn thuộc địa phận của Yên Bài về cho mình và nói: "Từ nay, hòn đá này ở đâu là địa phận Yên Mạc tới đó". Yên Bài lên kiện quan, quan cũng bênh Yên Mạc và quyết định cứ lấy hòn đá làm mốc.
            Hòn đá rất lớn, muốn di chuyển nó phải có trâu kéo mới nổi. Bọn kỳ hào Yên Mạc lại đặt luôn một chiếc điếm canh bên cạnh hòn đá. Dân Yên Bài rất bực tức bèn sang Yên Lỗ (thuộc tổng Hương Canh, huyện Bình Xuyên, nay thuộc xã Đạo Đức) nhờ giúp sức để làm cách  nào lấy lại được phần đất mới mất. Ở Yên Lỗ có một đô vật có tiếng là khoẻ, vật đâu là giật giải đấy, đến nỗi cứ thấy ông tới hội là các đô vật đều phải có nhời xin ông đừng vật giải để "Các đàn em" được nhờ.
            Ông đô Yên Lỗ biết chuyện Yên Bài bị chức dịch ăn hiếp mà mất đất liền hăng hái nói với các đàn em Yên Bài: "Không phải đông người mà cũng chẳng cần mưu kế gì hết, các ông cứ để mặc tôi, khắc xong".
            Ông đô tới chỗ có hòn đá ngồi rình hai đêm liền. Theo dõi sự động tĩnh, ông thấy lúc canh tư là lúc tuần điếm Yên Mạc ngủ say nhất. Tới đêm thứ ba ông đến bên hòn đá chờ lúc yên ắng nhất, liền lựa thế nhấc bổng hòn đá lên vác thẳng sang đất Yên Mạc. Đi một thôi thì ông mệt liền đặt hòn đá xuống ngồi nghỉ. Một lức sau nghe gà gáy lần thứ hai, biết trời sắp sáng, ông bỏ hòn đá đấy ra về. Thế là Yên Bài không những lấy lại được phần đất cũ mà còn mở rộng được thêm đất.
            Vì sự tích trên, Yên Bài và Yên Lỗ kết nghĩa với nhau và nơi ông đô đặt hòn đá được xây một ngôi chùa gọi là chùa Phúc Thịnh trong đó đắp tượng "ông nhấc đá". Tượng này ngoảnh mặt nhìn riêng một hướng, không cùng hướng với các tượng phật khác.
            Vực Xanh
            Vực xanh ở thôn Cát, xã Yên Nhiên, huyện Bạch Hạc nay ở thị trấn Vĩnh Tường, rộng 12 mẫu, sâu không biết đáy, ở dưới có cây xanh nên gọi là Vực Xanh. Tương truyền ở phía Tây Nam thôn ấy, xưa có miếu thờ Lý Nam Đế và thần Dương Đường, bên vực có nhiều cây cỏ lạ, thành rừng nhỏ, phía tây rừng có chợ, phía đông chợ có chùa, gần chùa có nhà người con gái dệt cửi. Một hôm đất ở dưới con quạ khung cửi bỗng sụt xuống, chốc lát thành cái riêng. Người con gái sợ kêu lên và chạy về mép rừng, quay lại nhìn chỗ nhà mình cũng đã thành vực sâu. Ngày sau nổi lên một pho tượng đá có khắc chữ là "Linh uyên thuỷ tộc bát hải long vương".
            Có một câu chuyện khác kể rằng: "Một hôm, các nàng tiên nữ xinh đẹp, xiêm y lộng lẫy trên trời xuống vùng này chơi xuân. Một nàng tiên mải vui, vô ý đánh rơi cành kim thoa. Cây kim thoa ấy biến thành một vũng nước nhỏ rồi thành vực sâu ngày nay. Vực Xanh rộng 18 mẫu, sâu 12 chạc cày. Từ đáy nổi lên 3 ông tượng. Dân ba làng Bồ Điền, Hồn Ngạc và Yên Cát đều muốn Vực Xanh về quê mình. Cuộc tranh chấp gay go, quyết liệt, không phân thắng bại. Quan phủ Vĩnh Tường xử kiện, phán rằng: "làng nào kéo được ba ông tượng dưới vực lên thì Vực Xanh thuộc về làng ấy", cả ba làng đều huy động hết trai tráng khoẻ mạnh ra để kéo ba ông tượng nhưng mấy ngày liền không được. Một đêm, trời trở gió lớn. Ba ông tượng trôi dạt về bờ phía làng Yên Cát. Yên Cát được Vực Xanh. Ba ông tượng được đưa liên bờ. Ngay lúc đó, hai ông hoá ra nước, còn một ông, nhân dân Yên Cát khiêng về thờ ở chùa làng.
            Một số truyện về Trần Nguyên Hãn
            Một hôm Trần Nguyên Hãn đi vỡ đất làm ruộng ở rừng Rạch, nhặt được một thanh gươm không có chuôi. Ngày ngày ông đem lưỡi gươm ra mài ở một hòn đá trắng ở cánh đồng Cổ Ngựa. Sau, Hãn tìm thấy một chuôi gươm ở một cái bè vó mà người chủ bè thả lưới vớt được, nơi đó là cửa sông Phó Đáy.
            Trong khi Hãn chưa tìm đường vào Lam Sơn, thường giấu lưỡi kiếm trong ống đòn gánh, gánh đôi thùng dầu lọc đi bán ở các chợ Bạch Hạc và chợ Bồ Sao; qua lại bến đò Phú Hậu, Hãn thường gặp một cậu học trò theo học một thầy ở Bạch Hạc. Quen biết nhau, Hãn thường giúp cậu trong việc học hành. Một hôm nhà cậu học trò có giỗ, bố cậu cho mời cả thầy đồ ở Bạch Hạc và ông bán dầu Sơn Đông đến nhà. Trong bữa rượu, nhân thấy ở đầu bè có con trai lớn, bố cậu xin hai người làm thơ vịnh trai. Sau đây là bài thơ của Trần Nguyên Hãn.
                        Trên sông nổi một vật gì
                        Không ốc không hến ắt thì đúng trai
                        Hạt châu ngậm, áo giáp ngoài
                        Miệng phun sóng dữ nào ai sánh bì ?
                        Quản gì mưa gió thị uy
                        Hướng đông lòng vẫn kiên trì hôm mai
                        Bốn phương nổi tiếng anh tài
                        Cò kía cô thế dám hoài đứng trông.
            Sau đó, ông hàng chài đem cả hai bài thơ lên trình quan huyện Bạch Hạc nhờ bình cho nghe, ý muốn ai làm thơ hay hơn thì cho học người ấy. Quan huyện bảo: "Anh cứ để thầy đồ Bạch Hạc dạy con anh, còn người bán dầu này anh không có phúc để giữ được chân người ta đâu, cứ xem ý bài thơ thì sự nghiệp người này không biết đâu mà lường được".
            Một hôm trên đường đi bán dầu, Hãn có nghỉ ở đền Bạch Hạc và được nghe thần Bạch Hạc nói chuyện với vị thần ở làng bên, Hãn nghe có câu nói: "Thượng đế nghĩ nước Nam vô chủ nên có sai Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi". Từ đó Hãn mới có ý thức tìm về Lam Sơn tụ nghĩa.     
TỤC NGỮ - CA DAO - DÂN CA là những thể loại rất được phổ biến trong đời sống các cộng đồng dân tộc ở Vĩnh Phúc.
            Về tục ngữ, ca dao
            Vĩnh Phúc có một kho tàng tục ngữ, ca dao phong phú. Bên cạnh nội dung phản ánh và giá trị nghệ thuật giống tục ngữ, ca dao nói chung của cả nước, có nhiều câu tục ngữ ca dao mang sắc thái địa phương rõ nét.
            - Đó là những câu tục ngữ, ca dao nói lên đặc điểm hoặc cái hay, vẻ đẹp tiêu biểu của một vùng đất, một miền quê; chẳng hạn:
            "Yên Lạc tứ Cẩm, ngũ Yên"
            Huyện Yên Lạc xưa có 4 làng Cẩm và 5 làng Yên. 4 làng Cẩm là: Cẩm Khê, Cẩm La, Cẩm Trạch, Cẩm Viên; nay phân tán về 2 xã Hồng Châu và Đại Tự. 5 làng Yên là: Yên Tâm, Yên Nghiệp (nay thuộc xã Yên Đồng), Yên Quán (xã Bình Định), Yên Lạc (xã Đồng Văn), Yên Thư (xã Yên Phương).
            Nam Chân, Bắc Dũng, Đông Kỳ, Tây Lạc
            Thời nguyễn, có 4 huyện được coi là trù phú nhất: Tỉnh Nam Định, có huyện Chân Định, tỉnh Bắc Ninh có huyện Yên Dũng, tỉnh Hải Dương có huyện Tứ Kỳ, tỉnh Sơn Tây có huyện Yên Lạc.
            Nhất cao là núi Ba Vì
            Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn
            Núi Ba Vì là núi Tản Viên huyện Ba Vì (Hà Tây). Tam Đảo là dãy núi lớn đứng giữa vùng trung du có khu du lịch và nghỉ mát thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
            Độc Tôn là một ngọn núi hiểm trở đứng riêng ra ở phía đông Tam Đảo sau núi Thiên Thị; thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa thời Lê Mạt và Nguyễn Danh Phương tức Quận Hẻo đã lập căn cứ ở đây…
            - Ca dao - tục ngữ về con người chủ yếu phản ánh những cá nhân, dòng họ… đã có công với dân, với nước về nhiều mặt, được dân thừa nhận. Ví như:
            "Họ Dương lập làng, họ Hoàng đào giếng"
            Nói về việc lập làng Gẩu (thị xã Vĩnh Yên). Họ Dương về đây cư trú đầu tiên, lập ra làng, họ Hoàng về sau vận động nhân dân đào giếng lấy nước ăn. Hai họ đều có công với làng.
            Bảy làng kẻ Đám, tám làng kẻ He
            Không đánh nổi giặc què ở núi Thanh Tước.
            Phản ánh cuộc khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Danh Phương cầm đầu chống triều đình Lê - Trịnh mục nát thời Cảnh Hưng. Nhân dân gọi Nguyễn Danh Phương là Quận Hẻo vì là người làng Hẻo (Tiên Hội, nay thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên). Quân triều đình gọi ông là "Giặc què" vì ông đi tập tễnh. Nguyễn Danh Phương đóng tại đồn ở núi Độc Tôn và thung lũng Thanh Lanh, Ngọc Bội; tiền đồn đặt ở núi Thanh Tước (nay thuộc Mê Linh). Quân triều đình thúc ép các làng Đám (xã Tiên Châu), làng He xã Phúc Thắng đi đánh quận Hẻo. Nhưng dân không nghe nên không đánh nổi.
            Tuần Giang, Nho Hứa bán chúa lập công.
            Vào năm Canh Ngọ (1780), Đoan Nam Vương Trịnh Khải bị Nguyễn Hữu Chỉnh theo Tây Sơn đánh bại, chạy khỏi thành Thăng Long, qua huyện Yên Lãng (nay là Mê Linh) gặp tiến sĩ Lý Trần Quán. Quán đón Khải về nhà ở Hạ Lôi giao cho học trò là Tuần Giang đưa đi trốn. Giang mưu cùng Nho Hứa đem Trịnh Khải nộp cho quân Tây Sơn. Lý Trần Quán tự vẫn để tỏ lòng trung thành với chúa Trịnh.
            Một số mặt khác của đời sống lao động cũng được phản ánh trong ca dao tục ngữ.
            + Sản xuất nông nghiệp
            . Về thời tiết có câu:
            Tam Đảo đội mũ nước lũ sẽ về.
            Về mùa mưa, nhìn lên các đỉnh Tam Đảo, thấy mây đen phủ dày đặc, sẽ có mưa to kéo dài, sẽ có lũ tràn về ngập các đồng trũng bắc Yên Lạc - nam Bình Xuyên.
            . Sản vật nổi tiếng:
            Lúa đồng Oai, khoai đồng Bầu
            Các cánh đồng của thị xã Vĩnh Yên: Đồng Oai ở xóm Đậu, ruộng cao hơn mặt ngòi, có nước tát không sợ cạn; khoai sọ đồng Bầu phường Liên Bảo có tiếng là ngọn.
            Nhất Sậu quả, nhì Gả Gối.
            Sậu là xã Hoàng Thượng, Quả là Hạ Chuế thuộc xã Kim Xá. Gả và Gối nay là xã An Hoà (Tam Dương), các làng trên là những nơi có nhiều thóc gạo.
            Cỗ chín lợn mười trâu không bằng tép dầu Đầm Vạc.
            Đầm Vạc thuộc thành phố Vĩnh Yên có cá tép dầu được xếp vào hàng đặc sản.
            Tép đầm Vạc, lạc chợ Cói.
            Chợ Cói thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên).
            Dứa Hướng Đạo, gạo Long Trì.
            Long Trì thuộc xã Đạo Tú, xã Hướng Đạo đều thuộc huyện Tam Dương.
            Dứa Hướng Đạo, gạo Làng Chùa.
            Làng Chùa là một thôn của xã Hướng Đạo.
            . Lễ hội đình chùa:
            Bơi Me, vật Triệu, hát làng Dần
            Làng Me hay Diệm Xuân thuộc xã Yên Lập (Vĩnh Tường) có hội đua chải vào tháng năm. Xã Triệu Đề (Lập Thạch) có lò vật nổi tiếng và làng Dần tức Dữu Lân (Việt Trì) nổi tiếng về ví giao duyên.
            Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi.
            Đức Bác gác Dạng bơi.
             Các làng trên đều có đua chải trong hội làng, lần lượt làng này gác chèo thì làng khác lại hạ chèo. Rau là thôn Cựu Ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc), Hạc là Bạch Hạc, Đức Bác và Dạng tức Tứ Yên (huyện Sông Lô).
            Đông Cao có lệ bó mo
            Tráng Việt có tiệc đi mò ăn đêm.
            Đông Cao thuộc xã Tráng Việt (Mê Linh) thờ bà Hồ Đề, tướng của Hai Bà Trưng, hội làng mồng 6 tháng Giêng có tiệc bánh dầy, khi giã bánh dầy, khi giã bánh lấy mo cau bó đầu chày. Tráng Việt (Mê Linh) cũng thờ tướng của Hai Bà là bà Ả Lã, ngày tiệc nửa đêm mới cúng lễ và ăn cỗ với ý nghĩa quân bà Ả Lã quyết chiến, tới nửa đêm đánh tan giặc mới ngồi nghỉ ăn.
            Về dân ca
            Ở Vĩnh Phúc, dân ca vừa mang âm điệu của vùng đồng bằng, vừa phảng phất âm điệu của các làn điệu dân ca các dân tộc miền núi.
            Trống quân Đức Bác
            Trống quân Đức Bác nói ở đây là hình thức hát trống quân giữa hai làng Đức Bác và các cô đào phường Xoan diễn ra ở bến đò Đức Bác.
            Các cô đào Xoan 12 người chia làm ba tốp, mỗi tốp 4 cô có một kép Xoan mang đàn theo. Bến đò chỉ cách đình làng hơn cây số. Trai làng Đức Bác cầm trống con có quai đeo bằng vải ra bến đò đón phường Xoan, cứ ba bốn anh đón một cô đào Xoan. Các chàng trai cất tiếng hát trước và cuộc hát diễn ra từ bến đò về tới đình, quãng đường ngắn vậy mà họ vừa hát vừa đi có tới hai tiếng đồng hồ !
            Nam nữ hát trống quân là hát đối đáp giao duyên.
            Sau mỗi câu hát người nam lại lùi một bước, nữ tiến một bước nhính dần về đình. Trống quân Đức Bác có làn điệu riêng. Nhưng thể thơ vẫn là lục bát. Hết một câu thì có thêm một câu đệm "Ta hỡi trống quân".
            Thông thường hát trống quân ở đồng bằng Bắc Bộ có ba phần:
            - Phần mở đầu: Thăm hỏi dò xét quê quán, tên tuổi.
            - Phần hai: Xe xết trao đổi tâm tình, ví von.
            - Phần ba: Chia tay.
            Nhưng ở trống quân Đức Bác không có phần chia tay vì sau khi hát trống quân thì về đình cho phường Xoan vào đình để hát thờ theo thể thức hát Xoan Phú Thọ.
            Hát ví giao duyên
            Hát ví giao duyên là hình thức hát đối đáp trai gái rất phổ biến ở trung du và đồng bằng miền Bắc. Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có một nền ca hát dân gian phong phú mà nổi lên là hát ví giao duyên nam nữ. Hình thức hát giữa các cô gái trên bờ và các chàng trai chèo đò dọc dưới thuyền, họ vừa đi vừa hát rồi con thuyền nghỉ lại để hai bên hát cho thoả lòng nhau. Ví giao duyên còn có hình thức hát ống: Bên nam bên nữ cách xa nhau một cái sân rộng, hoặc giếng nước, bờ ao, ngã ba đường cái, cách nhau vài ba chục mét, mỗi bên dùng một ống nứa dài khoảng mười phân, sau này được thay bằng ống bơ sắt bịt da ếch nối với nhau bằng một sợi chỉ tơ căng thẳng; người hát vào ống bên này, tiếng hát theo sợi tơ truyền sang ống bên kia nghe rất rõ.
            Ví giao duyên cũng còn có hình thức "Hát trống quân" với một chiếc thùng tre hay thùng sắt tây úp xuống lỗ đất. Một sợi dây thừng hay dây mây chăng qua thùng và giữa đáy thùng có một cái que đỡ lấy sợi dây, hai đầu dây căng ra, buộc vào hai cái cọc chôn đươi đất. Người hát gõ vào dây làm nhịp mà hát. Độc đáo nhất là hình thức hát trống quân ở Đức Bác.
            Hát ví thường là hát ứng khẩu rất tài tình, thông minh dí dỏm, đôi khi chanh chua, nhưng đại bộ phận đều đằm thắm, mặn mà tình cảm, khao khát yêu đương. Lời hát ví thường là những câu lục bát giống như hát xa mạc, hát trống quân.
            Soọng cô:
            Soọng cô là dân ca của đồng bào dân tộc Sán Dìu.
Hát Soọng cô chủ yếu là phần hát đối đáp giao duyên. Sau đó là phần hát trong             đám cưới. Soọng cô được hát theo sách, có bài bản sẵn; người đi hát phải thuộc sách hát, họ dẫn câu hát trong sách ra để hát đố, người đáp cũng nhờ thuộc sách mà trích ra những câu hợp cảnh hợp tình để hát đáp câu đối phương hát hỏi…
            Tốp trai hoặc tốp gái đến hát đều chưa vợ chưa chồng, nếu anh nào có vợ trà trộn vào họ cũng sẽ dò ra và hát đuổi cho xấu hổ mà phải về. Khi đến hát, họ phải têm đĩa trầu mời chủ nhà, có lời xin hát. Họ thường tổ chức hát ở nhà ngang nhà bếp, kiêng hát ở gian chính có bàn thờ.
            Có khi họ hát đến bảy tám đêm liền, nếu đôi bên tài hát thuộc nhiều, đối đáp không thua nhau thì còn kéo dài hơn mười đêm. Nếu bên nào hát nhắc lại câu đã hát thì bị coi là thua cuộc, nếu đã thua cuộc thì họ tự chán mà giải tán.
            Mỗi đêm hát đều có các bước: Chập tối hát gọi, mời ngồi xuống chiếu, mời nước, mời trầu. Nửa đêm là hát hỏi: Hỏi về quê quán, gia sự, hát thăm dò tìm hiểu nghề nghiệp, ý nguyện của nhau… Canh ba nhà chủ mời ăn lót dạ xôi hoặc chè cháo… Sau đó là hát chào, hát xin về, hát núi giữ nhau. Sáng ra thì họ vừa tiễn nhau ra cổng vừa hát hẹn hò cuộc hát tới.
            Hát đối đáp theo hướng giọng ví, kể lể gọi là hát cộc.
            Hát đám cưới thường là hát ru.
            Soọng cô trong đám cưới thường do các cặp nam giới đối đáp nhau, nhà trai cử hai anh hát, nhà gái cũng cử hai anh. Hát giọng ru thì song ca, hát cộc thì đơn ca.
            Về trò chơi trò diễn hội làng
            Chọi trâu
             Vĩnh Phúc chỉ có một điểm chọi trâu trong hội là ở thôn Bạch Lưu xã Hải Lựu (huyện Sông Lô). Bạch Lưu mở hội chọi trâu vào ngày 17 tháng Giêng và 18 tháng Chạp, một kỳ vào đầu năm và một kỳ vào cuối năm, tuy vậy mà lại là sát nhau, chỉ cách có một tháng. Cả 2 kỳ hội có 8 cặp trâu chọi, mỗi vòng 3 năm có hai hội chính và một hội phụ, trong đó hội phụ chỉ tổ chức một kỳ vào tháng giêng năm thứ 2. Trước kia hội chính chọi 8 cặp trâu, hội phụ chọi 4 cặp sau giảm đi, hội chính còn 5 cặp, hội phụ còn 3 cặp. Khi cho trâu vào chọi người ta đắp bờ đất cắm gióng tre xung quanh rồi thả trâu vào.
            Trước khi cho trâu chọi, người ta tắm rửa sạch sẽ cho trâu, cho uống nửa lít rượu, ăn cỏ non trộn muối, cháo và chuối thật no. Các con trâu chọi, mỗi con được một người dắt vào. Có hiệu trống nổi, người này tháo dây buộc mũi trâu rồi lui ra.
            Kéo co
            Hội kéo co xã Tích Sơn (nay là phường Tích Sơn thuộc thành phố Vĩnh Yên) đã được Nhất Thống Chí triều Nguyễn chép:
            Mỗi bên cử 25 tráng đinh vào kéo. Họ khoẻ mạnh, đầu chít khăn đỏ, lưng thắt bao đỏ. Bên nào cũng có một người cầm cờ đuôi nheo chỉ huy. Người cầm chịch ấy gọi là "ông lấy mực".
            Phần sợi song của mỗi bên tính từ giữa cọc ra 1m có buộc vải màu đánh dấu. Nếu bị đối phương lôi mạnh chỗ đánh dấu chui vào lỗ cọc thì bị thua. Bên thắng được làng thưởng hậu hĩnh bằng gạo lợn, bò đủ cho trai đinh giáp mình sửa cỗ bàn ăn uống mừng thắng trận.
            Bơi chải
            Vùng Ngã Ba Hạc mênh mông sông nước Lô, Thao, Đà giang hội tụ, nhân dân còn truyền tụng câu phương ngôn: "Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi, Đức Bác gác Dạng bơi". Đó là nói về trình tự các cuộc đua chải ở các xã quanh Ngã Ba Hạc.
            Rau là thôn Cựu Ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc) có tiệc bơi chải từ ngày 10,12 âm lịch với 4 chải của 4 giáp, thân chải, dầm chèo đều sơn đỏ, các tay chèo mặc quần áo xanh đỏ, thắt lưng đai màu. Chải xuất phát từ bến đình bơi sang địa phận xã Xuân Vân thuộc đất Hà Tây, mọi người nhảy ùa lên bờ cướp lấy các né tắm ở bãi đem về.
            Sau Rau là Hạc. Chải Bạch Hạc bơi đua vào ngày 15-5, có 4 giáp thi đua mỗi giáp một chải, mỗi chải một màu sơn, xanh, vàng, trắng, đỏ khác nhau. Các chải của Bạch Hạc là thuyền độc mộc, không phải là thuyền ván ghép.
            Me là xã Yên Lập (Vĩnh Tường) bơi trong 3 ngày từ 25-27 tháng 5 âm lịch. Ngày 25 bơi trình thuyền trên sông Phó Đáy trước cửa đình rồi thi bơi; ngày 26 rước kiệu trên 3 cái chải ghép vào nhau, trên lát ván; ngày 26 bơi thi có chấm giải, chiều gác chải. Chải làng Me tạo dáng "đầu rồng đuôi tôm", sơn son thiếp vàng. Vào cuộc đua là 3 chải của 3 xóm mỗi chải 38 tay chèo, đường đua dài khoảng 2 km, đến điểm đích cướp cờ cắm ở thân chuối đem về. Giải nhất là cờ đỏ rồi thứ tự là cờ vàng, cờ xanh.
            Dạng là xã Tứ Yên (Sông Lô) bên sông Lô có hội đua chải vào các ngày 25-26 tháng 6. Tứ Yên có 4 thôn: Yên Lương, Yên Phú, Yên Mỹ, Yên Lập, mỗi thôn một chải, mỗi chải có 46 tay chèo, bơi từ bến Yên Lương tới bến Yên Lập lại bơi về…
           
Về trò đua tài thi khéo.
            Thi nấu cơm
             Nổi bật là thi nấu cơm diễn ra ở xã Sơn Đông (Lập Thạch), ở xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường).
            Xã Sơn Đông (Lập Thạch) nấu cơm thi vào ngày 8 tháng Giêng. Ở đây thi bắt đầu từ hạt thóc cho vào cối giã cho tới khi được nồi cơm, vì nhiều công đoạn nên mỗi giáp cử 8 người.
            Xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường) vào ngày 9/1 âm lịch thi nấu cơm. Mỗi người dự thi có chiếc cần tre buộc sau lưng, đầu cần buông trước mặt một chiếc niêu con. Để lấy lửa ngườ ta cọ hai thanh tre già vào nhau, một người kéo lửa, một người châm đóm và bùi nhùi. người dự thi do các giáp cử, không phân biệt nam nữ. Nhóm nấu cơm thì phải đi vòng quanh sân đình vừa đi vừa nấu. Khi chủ tế nổi trống dức hồi là chấm hết cuộc thi.
            Xã Tích Sơn (nay là phường Tích Sơn, Vĩnh Yên), hội thổi cơm thi nổi tiếng khắp tỉnh Vĩnh Yên cũ. Muốn dự thi nấu cơm phải vào làng. Hàng năm hội thi nấu cơm tổ chức vào mồng 3 tết, tiêu chuẩn là nấu không có cháy và róc nồi, mịn như cơm nắm có thể xắt ra từng miếng được, nồi cơm cũng giữ không cho có vết khói vết lửa. Cũng có người không dùng bếp than mà nấu bằng nước sôi, bỏ gạo vào niêu đất đổ nước sôi vào lại chắt ra, cứ lặp đi lặp lại động tác này cho tới khi cơm chín. Ngày trước, các chức dịch hào lý cũng được thi, nếu hai nồi cơm ngang giải thì nồi cơm lý dịch sẽ được giải trên còn nồi bạch đinh bị đánh tụt xuống một cấp.
            Về trò diễn cầu mùa cầu đinh
            Hội trình nghề và tung con ở hai làng Bích Đại và Đồng Vệ.
            - Trình nghề:
            Mỗi hộ nông dân có trâu cày và năm ấy không bận tang được bện một con trâu bằng rơm, trâu lớn như thật nhưng không chân. Một người trong hội đội con trâu rơm, kéo một cái cày thật, đã tháo mũi cày và do một người khác điều khiển. Một người đàn bà trong gia đình cắp một cái thúng đầy trấu. Họ cùng diễn lại trên sân đền các công vệc cày ruộng và gieo hạt như thường ngày vẫn làm. Thiếu niên và thanh niên 20 tuổi hoặc lớn hơn nữa, cải trang thành con gái, đóng vai con trâu và người cày ruộng; ngược lại thiết nữ 16,17 tuổi sắm vai người gieo hạt nhưng lại cải trang thành con trai. Họ "cùng nhập hội canh tác" trên sân đình.
            - Tung con
            Mỗi làng đem ra đình hai túi vải, mỗi túi đựng 20 đoạn gỗ vông dài khoảng 15cm, 6 đoạn còn để mậm (búp là mới nhú) tượng trưng cho con trai và  6 đoạn khác không mậm tượng trưng con gái. 4 túi đều đặt lên bàn thờ, mỗi ngày hội sẽ dỡ ra một túi.
            Trong sân đình, dựng hai cái chòi cao.
            Một số người được chọn sẵn trong số tộc biểu có đông con cả trai lẫn gái và không có tang; họ mặc quần áo đỏ và đến bàn thờ thần làm lễ. Có hai người thắt lưng xanh vác cái túi (gỗ vông) trèo lên theo. Ông tộc biêu mặc quần áo đỏ cởi túi, lấy các đoạn gỗ vông tung ra bốn phía. Dân xem hội ào vào cướp lấy bằng được: Người nào cướp được đoạn gỗ vông mậm thì năm ấy thánh sẽ cho con trai; người nào cướp được đoạn gỗ nhẵn thì sinh con gái; ai cũng tin rằng cướp gỗ sẽ gặp được nhiều may mắn.
            Trình nghề ở Văn Lôi.
            Đình Văn Lôi, xã Tam Đồng (Mê Linh) thờ Lũ Luỹ đại vương (tướng của Hai Bà Trưng). Trong tiệc làng mồng 5 tháng giêng cũng có trò trình nghề với các vai người đi cày, 3 thợ cấy (nữ), một người cuộc góc đeo giỏ, trong giỏ để vỏ ốc nhồi. Một ông đồ mang bát to làm bằng gỗ xoan, một người bán sách chữ nho, giấy bút mực, (nghiên mực là hòn lóc chẹn bếp). Vai Thiên lôi đeo cờ đuôi nheo.
            Mọi người trước khi diễn trò đều phải vào đình lễ Thánh.
            Trò bắt đầu. Tất cả các vai diễn đều diễn động tác mô phỏng sự lao động của nghề mình làm. Vừa diễn vừa bông đùa khôi hài để gây cười cho công chúng đám hội. Ông Thiên lôi chạy quanh đình làng 3 vòng rồi cầm gáo múc nước ở một cái chum vừa hò hét vừa giội nước vào các vai diễn.
            Diễn trò xong có 4 người rước bông  lúa thần ra cửa đình làm lễ. Lúa thần là những bông lúa buộc vào đoạn cây cắm trên khúc chuối đặt trên cái chõng tre làm kiệu khiêng. Chủ tế khấn thần linh phù hộ cho dân làng "Thóc lúa đẻ ra, của nhà làm ra, của đồng làm nên". Sau đó lúa thần được chia cho đàn anh và các trưởng họ đem về cắm vào bình hương trên bàn thờ.
           
Bắt chạch trong chum:
            Làng Văn Trưng (xã Tứ Trưng, Vĩnh Tường) vào đám ngày mồng 6 tháng giêng. Ngoài tế lễ rước sách hội còn có trò bắt chạch trong chum.
            Trước cửa đình bày một hàng chum, ít nhất cũng 5 cái, mỗi chum đều đựng đến 2/3 nước, trong đó có thả một con chạch.
            Cuộc thi có giải thưởng là khăn lụa hồng, trà sao, trầu cau và có khi có tiền. Không phải ai muốn vào dự thi cũng được, tuy cuộc thi mở cho khắp mọi người. Muốn dự thi phải có hai người, một nam một nữ (phần lớn là người hiếm con, muộn con) để hỗ trợ nhau trong cuộc bắt chạch. Trong lúc bắt chạch, đôi nam nữ này không phải chỉ có việc khoắng tay vào trong chum mà bắt chạch, họ phải tuân theo lệ làng, thực hiện đúng hèm của thần linh. Đôi trai gái phải vừa ôm nhau vừa bắt chạch: Gái, tay phải ôm ngang lưng trai còn tay trái khoắng vào trong chum nước; Trai, tay phải khoắng trong chum nước còn tay trái ôm qua lưng người con gái, đưa bàn tay nắm lấy "nhũ hoa" của cô gái. Hai người ôm nhau vừa bóp "nhũ hoa" vừa bắt chạch, bắt cho kỳ được con chạch thì mới thôi.
            Số cặp nam nữ dự thi bắt chạch nhiều hay ít là tuỳ số chum đặt ở trước đình. Ban giám khảo gồm các bô lão, các quan viên trong xã ngồi trên thềm đình để ngắm những cặp trai gái bắt chạch và bắt bẻ họ nếu vì mải bắt chạch mà bỏ lơi tay ôm nhau. Cặp nào bắt được chạch trước tiên là được giải.
            Nói đến Văn hoá dân gian Vĩnh Phúc không thể thiếu VĂN HOÁ ẨM THỰC. Đó là những món ăn, cách uống đặc trưng cho một vùng quê, cho mỗ i dân tộc, gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của họ từ bao đời nay.
            Không chỉ phong phú, đa dạng mà còn rất gần với đời sống hàng ngày của nhân dân. Tất cả đều bắt nguồn từ cuộc sống lao động mà ra. Nhưng, nếu thưởng thức sẽ cảm nhận đầy đủ sự ngon, thơm và hấp dẫn của các món ăn dân dã mà không tầm thường này.
MẮM TÉP ĐỨC BÁC
            Làng Đức Bác (huyện Sông Lô) có 2 cách làm mắm tép, ăn ngon đặc biệt.
            - Một loại để lọ ngửa, dùng ăn cả cái cả nước:
            Người ta xóc thật kỹ rổ tép, chao trong nước cho sạch vảy. Để róc nước thật khô rồi bốc muối trộn vào với tỷ lệ hai muối rưỡi (10 bát tép trộn 2,5 bát muối). Cho vào lọ ướp, bịt kín rồi dùng mầu mo cau đổ gio vào cho ruôì bọ khỏi đẻ ở ngoài rồi bò vào trong lọ. Sau 3 tháng lấy ra pha ít bột giềng, gừng, ớt để ăn cùng.
            - Loại khô cũng ướp như trên nhưng sau 1 tháng vớt ra vắt lấy nước nấu nước mắm còn giữ lại cái, trộn với thính ngô và cho vào lọ nút rơm. Úp miệng lọ vào lon nước lã rồi cách làm cũng như làm cá chua đã nói trên. Phải thay rơm khi rơm ướt và thay nước ở lon bằng nước sạch khác.

CÁ GỎI THỜ

            Làng Xa Mạc xưa có tục làm gỏi cá để tế thần. Làng có ao đình thả cá công. Ngày 10-3 vào tiệc. Ngày mồng 9, cho cả làng xuống bắt cá. Mỗi người đánh cá xong phải nộp cho làng một con cá chép to nhất để làm gỏi cá tế thần, gọi là gỏi thờ. Mỗi năm phải làm đầy 4 mâm gỏi cá để cúng.
            Cá mổ lọc lấy thịt, lấy giấy bản thấm nhiều lần cho sạch, khô các miếng cá. Làm thính gạo nếp, đổ nhỏ rang khô, xay bột bóp lẫn với cá. Rồi rũ bỏ thính ướp thay bằng bột thính khô mới cho thơm cá.
            Khi làm ăn gỏi, người ta ăn lẫn các thứ gia vị, gắp thêm một ít mật và nước chấm lòng cá ăn cùng.

BÁNH NẲNG, BÁNH GẠO RANG

            Vùng Lập Thạch có câu: "Bánh nẳng chợ Tràng, bánh gạo rang Tiên Lữ".
Vùng chợ Tràng (Đạo Nội, Đôn Nhân, Đôn Mục) xưa có bánh nẳng ngon nổi tiếng.
            Bánh nẳng làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Gạo đãi sạch ngâm trong nước nẳng một đêm. Để có nước nẳng, người ta phải lấy các cành xoan tươi, cành bưởi tươi (cả lá), trã vừng, lá dáng, lá si, không thể thiếu tầm gửi cây dọc. Các loại cành lá trên đem đốt lấy tro. Hoà tro vào chậu nước, lọc lấy nước trong, bỏ bã. Múc một bát nước để thử. Nhá dập miếng trầu rồi thả vào bát nước nẳng. Nếu màu nước chưa đỏ tươi, phải hoà thêm tro vào. Nếu nước nẳng đỏ thậm phải hoà thêm nước lã nhạt bớt để có nước đỏ tươi màu cờ. Dùng nước nẳng này để ngâm gạo. Ngâm qua đêm, vớt gạo ra để róc nước cho khô rồi gói bằng lá chít đã luộc và rửa sạch. Luộc bánh trong dăm sáu tiếng đồng hồ vớt ra bóc lấy các hạt gạo nhừ, trong suốt, dính vào nhau vàng như mật ong là được.
            Bánh gạo rang cũng làm bằng gạo nếp hoa vàng. Gạo ngâm trong nước quả dành dành cùng ruột cỏ bấc đèn, cây dáy và tro cây vừng đốt ra. Ngâm trong ba ngày, vớt gạo để khô cho vào chõ xôi. Xôi chín đem trộn với mỡ lợn, rải ra nia rồi dùng vồ nhẵn bôi mỡ đập đi đập lại trong vài giờ cho hạt xôi bẹt ra. Sau đó lại phơi khô.
            Đem vào trong râm để nguội mát tay lại trộn mỡ lợn đổ vào chảo rang cho nổ bung ra. Đun sôi mật, nhúng đũa kéo lên thấy mật nhỏ giọt mới đổ gạo rang vào đun, quấy đều rồi đổ ra, giàn mỏng trong mâm hoặc thớt, ván nhẵn. Dùng đoạn cây tròn nhẵn lăn đi lăn lại cho bánh lèn chặt. Dùng thước và dao sắc cắt thành từng cái bánh to nhỏ theo ý muốn rồi đem gói trong giấy bóng kính.

CHÁO SE, BÁNH HÒN HƯƠNG CANH

            Cháo se, bánh hòn là món ăn phổ biến ở nhiều xã trong huyện Bình Xuyên, nhưng ngon hơn cả, ngon đến mức trở thành "đặc sản" thỉ chỉ có ở Hương Canh và ở những nhà làm đúng công thức cổ truyền.
            Chọn loại gạo ngon, vo nước cho sạch rồi xay bột và lọc ngay, không ngâm nước lâu hoặc pha thêm hàn the. Bột được chia thành 3 phần: 2 phần đem sôi chín, 1 phần để sống, nhào với nhau rồi cho vào cối đá lèn cật lực, đến lúc không dính tay mới đem se cháo hoặc nặn bánh. Nước nhào bột là nước mưa hứng giữa trời, đựng trong chum lưu niên, có nặp đậy, trong vắt. Có thể cầm sợi bột se trong bát cháo thả vào tận cuống họng, nuốt vào rồi rút ra mà không đứt. Hạt thịt băm nấu trong cháo se phải chọn loại thịt sao cho khi ăn phải vừa ngon, vừa béo mà không ngấy.
            Nhân bánh hòn chủ yếu là hành băm nhỏ sào mỡ, thêm chút mộc nhĩ. Hành phải kén hành hoa, thứ nhỏ dảnh. Mỡ không phải là mỡ phần béo ngậy mà là mỡ cơm sôi, có lẫn thịt mới ngon. Thông thường khi ăn thì chiếc bánh cắn đôi, nhúng vào bát cháo cho nước cháo ngấm vào mảnh bánh, ăn mới ngon. Nếu ăn riêng, thích chấm thì cách pha nước chấm cũng rất "nghệ thuật": Có mắm mà không được mặn, có dấm mà không được gắt, có đường mà không được nhợ, có tỏi mà không được hôi, nhiều ớt mà không cay sè. Ăn thứ bánh có bột nhuyễn mà không nhão, dẻo mà lại dai, không cứng, không thô ráp, mềm vỡ ra dưới hai hàm răng, lưỡi thấm thứ chấm này, người thưởng thức nhớ đời.

NEM CHUA VĨNH YÊN

            Thành phố Vĩnh Yên xưa có nhiều món ăn như: Tương nếp của cụ cả Dư xóm Đình và bà ba Nhạn xóm Chiền, nộm đu đủ thịt bò khô của chị Nhỡ, thịt quay của cụ bếp Kiến xóm Dinh, phở của ông Tư Cá, gần Nhà dây thép (Bưu điện bây giờ). Nhưng thứ đặc sản hàng đầu không ai không hết lời ca ngợi, đó là "nem chua bà Cai Cam" với tên hiệu cửa hàng là Phú Đức.
            Nem chua Phú Đức vẫn làm bằng giò lợn sống trộn với thính gạo và bì lợn thái mỏng, cuộn trong chiếc lá ổi bánh tẻ, bọc trong lá chuối khô rồi buộc lại thành quả. Vẫn thế thôi. Nhưng sao mà ngon đặc biệt; nó hơi lật sật, lại dẻo và đậm đà, thơm, chua roi rói. Ăn vã đã ngon, nhắm với rượu lại càng ngon.

GỎI CÁ CỦA NGƯỜI CAO LAN

            Loại cá mè to rửa sạch, đánh vảy sạch, lọc lấy hai lườn thịt dọc thân từ mép xương vây xuống bụng. Dùng giấy bản thấm sạch máu rồi thái thành những miếng mỏng. Lại dùng giấy bản thấm khô các miếng thịt. Số thịt cá chia làm hai phần, một phần dùng ăn sống bọc trong các loại gia vị: Lá lốt, tía tô, xương xông, rau mùi, rau bao (bồ công anh), rau rấp. Chấm trong bát nước chấm đun sôi, nấu bằng lòng cá rửa sạch băm nhỏ với nước mẻ, tương, gừng, mỡ, dấm dọc, tai chua, hành, cà chua, nước chấm nấu đặc sột sệt, không loãng quá.
            Một phần thịt được bóp lẫn với thính bột ngô rang, ăn cùng lá gia vị và món nước chấm trên.
            Đầu đuôi và xương cá được ướp vừa với tương gừng mắm muói rồi kho mục làm món ăn đậm...
            Còn rất nhiều các món ăn khác đậm đà chất văn hoá dân gian khó kể hết được.

CÁ THÍNH

            Đây là món ăn đặc sản của dân Cao Phong và Đức Bác ven sông Lô.
            Cá Thính (còn gọi là cá muối chua) làm bằng các loại cá có vẩy lớn. Người ta mổ cá bỏ lòng gan để khô ướp trong 3 ngày. Sau đó bóp cho sạch nước rồi dùng thính bột ngô, đậu rang trộn vào. Sau một tuần, lại bỏ ra rũ sạch bột thính đã ướp. Bóp thay vào là bột thính khô mới rang. Sau 3 lần thay bột thính, mới cho cá vào lọ để làm chua. Người ta xếp ngửa miếng cá lên trên để khi úp lọ xuống bung cá sẽ ở phái dưới khiến cho nước cá dễ chảy ra.
            Dùng rơm sạch, vò nhàu nhét kỹ vào trong lọ, dùng que tre ghim chặt rơm, úp miệng lọ cá xuống một lon nước lã sao cho nước không làm ướt ghim trong lọ. Thỉnh thoảng phải đổ bỏ nước ở lon thay bằng nước sạch khác; vì nước cá trong lọ, hoặc mùi vị cá ướp phả ra tan trong nước ở lon rồi bốc mùi lên lọ cá là dấu hiệu cạn nước ở lon, hở miệng lọ cá, phải đổ thêm nước vào lon. Thường xuyên kiểm tra, nếu rơm nút trong lọ ướt phải thay ngay rơm khô khác. Vì nước hoặc hơi ẩm của các miếng cá sẽ làm ướt rơm trong lọ, để lâu sẽ làm cho các miếng cá mất mùi thơm, chua.
            Sau 3 tháng, lấy miếng cá ra nướng, thấy đỏ, có vị chua là được. Người ta thường dùng cá chua ăn sống với gia vị gồm các loại rau thơm khi uống rượu hoặc nướng chín ăn với cơm.

TÉP DẦU ĐẦM VẠC

Cỗ chín bò mười trâu,
Không bằng tép dầu đầm Vạc
            Thuở trước ở Vĩnh Yên nhà nào cũng có mấy cái nồi đất, cái nấu cơm gạo tám thơm ngát mũi, cái luộc rau cải ngồng, cái lót lá gừng đáy nồi kho tép dầu Đầm Vạc gia thêm tương, ớt, và đường "thắng" làm nước hàng. Niêu tép dầu kho cứng, đậm đà vị tương, thơm cay hương gừng... bùi bùi ngầy ngậy. Có những người Vĩnh Yên xa nước, nhớ quê nhớ niêu tép dầu kho... đến ứa nước mắt ! Ngày còn chiến tranh, có bà mẹ Vĩnh Yên lặn lội cả trăm cây số khư khư gói quà đến quân y viện thăm con để ngắm con ăn cơm với tép dầu kho.
            Con tép dầu Đầm Vạc ấy,  phần nhiều chỉ bằng cái lá tre; không tinh mắt dễ nhầm với con cá mương. Khác ở chỗ là nó xẫm màu hơn cá mương. Cái bã trầu các bà, các mẹ ta ăn trầu thế nào thì con tép này hao hao như thế; và sự “mời trầu” mà Vĩnh Yên ta nói là “mời giầu”, cho nên mới có tên gọi giống tép này là: tép dầu !
            “Tôm ăn chạng vạng, cá ăn rạng đông”, sáng tinh mơ người làm nghề tép đội rổ hớt ra đầm. Dăm con cá không vẩy làm mồi, cái rổ hớt tép to tướng cỡ 3-4 thước (1m20-1m60) cặp kè bên mạn thuyền; 2 vợ chồng: Nàng chèo thuyền, chàng băm “cốc cốc” nát cá mồi khoả xuống nước. Tép đến bu đen mặt nước, cứ việc hớt rổ, tép nhảy tách tách óng ánh thật vui trong sớm mai !
            Chẳng biết nước đầm Vạc chứa đựng những tố chất gì, những loại phù sa du sinh vật gì mà con tép dầu ở đây lại đậm đà thơm ngon đến thế ? Người ta có thể dùng những bữa tiệc thịnh soạn vớii rượu tây, bia ngoại; với các món ăn Tây, Tàu bằng đủ cách thui, nướng, hầm, rán… nhưng chắc rằng một đĩa rau luộc, cơm ăn với tép dầu kho cứng, hẳn còn nhớ mãi. Và câu ca:

            “Cỗ chín bò mười trâu không bằng tép dầu Đầm Vạc” là niềm vui, nỗi nhớ, là lòng tự hào của người Vĩnh Yên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét