Luận văn du lịch, tổng hợp các luận văn du lịch Việt Nam và thế giới.
Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015
Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014
Tổng quan về huyện Mộc Châu
TIỂU LUẬN:
Download: PDF
Khát quát về tổ chức và hoạt động
của chi nhánh NHNo&PTNT
Huyện Mộc Châu
LỜI NÓI ĐẦU
Là một chi nhánh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sơn
La, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mộc Châu trải qua 20 năm
hoạt động đã đạt tăng trưởng đáng kể trong mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt
động kinh doanh. Đặc biệt Ngân hàng No&PTNT huyện Mộc Châu hoạt động trên
một địa bàn có nền kinh tế còn rất khó khăn, kém phát triển, đời sống người dân còn
nghèo đói, lạc hậu, dân trí thấp, nhưng với chức năng hoạt động chính của ngân hàng
nông nghiệp là hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhằm thực hiện mục
tiêu nâng cao đời sống người nông dân và phát triển kinh tế nông nghiệp nên Ngân
hàng Nông nghiệp huyện Mộc Châu đã vượt mọi khó khăn, thách thức để góp phần
đầu tư vốn cho phát triển kinh tế nông nghiệp, từ đó cải thiện đời sống nhân dân trong
huyện.
Việc thực tập tại chi nhánh NHNo huyện MộcChâu đã giúp người viết hệ thống hoá và củng cố những kiến thức đã học, vận dụng những kiến thức đó vào thực tế, làm quen và tăng cường kỹ năng thực tế, năng lực chuyên môn về nghiệp vụ ngân hàng nói chung, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng. Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ công nhân viên tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu đã giúp đỡ tác giả hoàn thành bài viết này.
Bài viết có kết cấu gồm 2 chương:
Chương I: Khát quát về tổ chức và hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu.
Chương II: Phần thực tập nghiệp vụ tại Chi nhánh.
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI
NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN MỘC CHÂU
1. Giới thiệu chung
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện Mộc Châu được hình thành vào năm
1988, là chi nhánh cấp 3 trực thuộc chi nhánh cấp 2 là Ngân hàng No&PTNT Tỉnh
Sơn La, có trụ sở chính đặt tại trung tâm huyện là Thị trấn Mộc Châu, là đơn vị trực
tiếp kinh doanh và nhận khoán tài chính với NHNo&PTNT tỉnh Sơn La theo quy định
946A của NHNo&PTNT Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp huyện Mộc Châu có một
Phòng giao dịch trực thuộc mình là Phòng giao dịch Thảo nguyên đặt tại thị trấn Nông
trường Mộc Châu.
Hoạt động của Chi nhánh được chia làm ba giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1988 - 1990: Ra đời và định hình, đây là giai đoạn cam go nhất vì bước đầu đổi mới trên mọi phương diện từ tổ chức cán bộ, nghiệp vụ kinh doanh, cơ chế chính sách và nhất là về tư tưởng cán bộ.
Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1991 - 1996: Tiếp tục củng cố, ổn định bộ máy, tìm kiếm khách hàng, cải tiến nghiệp vụ… giai đoạn này 3 năm đầu tuy đã có nhiều đề xuất, cải tiến nhưng tài chính vẫn bị lỗ. Từ năm 1994 thực hiện khoán tài chính, cơ chế kế hoạch, mở rộng cho vay kinh tế hộ nên đã có lãi, có lương cho cán bộ.
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1997 đến nay: Đây là giai đoạn mở rộng thị trường,
đổi mới công nghệ, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật một cách mạnh mẽ nhằm đưa vị
thế ngân hàng ngày càng cao, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế của huyện.
2. Phạm vi hoạt động
Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu hoạt động chủ yếu trên địa bàn huyện Mộc Châu. Mộc Châu là huyện cửa ngõ của tỉnh Sơn La thuộc địa bàn vùng núi cao của miền Tây Bắc, có đường Quốc lộ 6 chạy dọc theo chiều dài của huyện khoảng 68 km. Toàn huyện có 29 xã, thị trấn, trong đó có 6 xã, thị trấn thuộc khu vực I, 15 xã thuộc khu vực II (4 xã thuộc diện các xã vùng đồng bào dân tộc khó khăn), và 8 xã thuộc khu vực III. Trung tâm là thị trấn MộcChâu, diện tích tự nhiên 2.025 km2, phần lớn là đất lâm nghiệp, còn đất nông nghiệp chỉ chiếm 16,7%. Dân số là 131.462 người, mật độ bình quân 64 người/1km2.
Địa bàn kinh tế động lực của huyện gồm 2 thị trấn, các xã vùng I, vùng dọc Quốc lộ 6, có thế mạnh về một số cây con chủ lực như: bò sữa, chè, cây ăn quả, cây lương thực, chăn nuôi đại gia súc, chế biến nông sản, một số ngành dịch vụ cũng khá phát triển như khách sạn, nhà hàng, cửa hàng tạp hoá, cửa hàng ô tô, xe máy, … Đây là vùng tập trung chủ yếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu lớn về vốn để tập trung cho đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Đây là thị trường để ngân hàng đầu tư tín dụng.
Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu có mạng lưới tín dụng rộng khắp 29/29 xã, thị trấn. Chi nhánh và Phòng giao dịch Thảo nguyên trụ sở đều đặt tại hai thị trấn là trung tâm kinh tế - văn hoá - xã hội của huyện. Tuy nhiên trên địa bàn huyện Mộc Châu còn có Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, dịch vụ tiết kiệm của Bưu điện huyện và ba Quỹ tín dụng nhân dân là những đối thủ cạnh tranh của Chi nhánh. Do đó cạnh tranh luôn diễn ra rất quyết liệt cả về mặt huy động vốn lẫn đầu tư tín dụng.
3. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
3.1. Cơ cấu tổ chức
Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu thực hiện quy trình sắp xếp, bố trí các phòng, tổ nghiệp vụ từ trung tâm huyện đến PGD, công tác quy hoạch cán bộ theo đúng quyết định số 646/QĐ-HĐQT-TCCB của chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN và chỉ đạo trực tiếp của giám đốc NHNo&PTNT Tỉnh Sơn La.
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức của NHNo&PTNT huyện Mộc Châu GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng giao dịch Thảo
Tổ tín dụng
Tổ Kế toán - Ngân quỹ
PHÓ GIÁM ĐỐC
NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu
Phòng tín dụng
Phòng KT - NQ - HC
Tổ Kiểm tra- Kiểm soát nội bộ
3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban
3.2.1. Phòng tín dụng (tổ tín dụng):
Nghiên cứu, thẩm định dự án của KH, hướng dẫn KH vay vốn. Kiểm tra, quản lý, thu thập, phân tích thông tin kinh tế-xã hội cũng như thông tin về KH, đánh giá và xếp loại KH. Xây dựng kế hoạch tín dụng và đề xuất phương án, dự án của KH. Phân loại nợ đồng thời phòng ngừa rủi ro tín dụng.
3.2.2. Phòng kế toán - ngân quỹ (tổ KT-NQ):
Thực hiện các nghiệp vụ kế toán ngân hàng, hạch toán, thanh toán, phát hành thẻ, giải ngân…, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, thu chi tài chính, quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng. Chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát,lưu trữ chứng từ, bảo vệ kho tiền, đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ. Xử lý các nghiệp vụ thừa, thiếu quỹ trong ngày. Thực hiện nguyên quy tắc ra vào, bảo quản kho tiền theo đúng trình tự và phương thức quy định.
3.2.3. Phòng hành chính: Quản lý nhân sự, làm công tác hậu cần, nhận công văn, tiếp dân, phục vụ phương tiện đi lại, kiểm tra theo dõi việc chi trả lương cho các cán bộ viên chức trong Ngân hàng. Đảm bảo việc tổ chức và đào tạo cán bộ theo đúng quy định của nhà nước, của ngành đã ban hành.
3.2.4. Tổ Kiểm tra - kiểm soát nội bộ: Chịu trách nhiệm kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh và các đơn vị trực thuộc. Chấp hành nghiệp vụ kinh doanh, các quy định của NHNN về đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ.
4. Khái quát các hoạt động tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu năm 2009
4.1. Hoạt động huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2009 là 207.693 triệu đồng, tăng so với cùng kỳ năm trước là 80.956 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 63,88%, đạt 115,4% kế hoạch được giao.
B¶ng 1: KÕt qu¶ huy ®éng vèn t¹i NHNo&PTNT HuyÖn Méc Ch©u
(Nguån vèn ph©n theo thêi gian)
§¬n vÞ: TriÖu ®ång
N¨m 2008 N¨m 2009 So s¸nh
Tû Tû Tû lÖ
chØ tiªu T¨ng(+)
Sè tiÒn träng Sè tiÒn träng % T¨ng
Gi¶m(-)
(%) (%) Gi¶m
Tæng nguån vèn
126.737 100 207.693 100 +80.956 +63,88
huy ®éng
1. TG kh«ng kú h¹n 26.121 20,6 79.427 38,2 +53.306 +204,1
2. TG cã kú h¹n d-íi
10.19 8 45.428 21,9 +35.238 +345,8
12 th¸ng
3. TG cã kú h¹n tõ
90.443 71,4 82.838 39,9 - 7.605 - 8,4
12 th¸ng trë lªn
(Nguån sè liÖu lÊy tõ b¸o c¸o kÕt qu¶ thùc hiÖn nhiÖm vô kinh doanh n¨m
2008-2009)
B¶ng 2: KÕt qu¶ huy ®éng vèn t¹i NHNo&PTNT HuyÖn Méc Ch©u
(Ph©n theo tÝnh chÊt nguån vèn)
§¬n vÞ: TriÖu ®ång
chØ tiªu
Tæng nguån vèn
huy ®éng
1. TG d©n c-
2. TG tæ chøc kinh
tÕ
N¨m 2008
Tû
Sè tiÒn träng
(%)
126.737 100
103.613 81,7
16.691 13,2
N¨m 2009
Tû
Sè tiÒn träng
(%)
207.693 100
141.531 68,1
60.133 29,0
So s¸nh
Tû lÖ
T¨ng(+)
% T¨ng
Gi¶m(-)
Gi¶m
+80.956 +63,88
+37.918 +36,6
+43.442 +260,3
3. TG TCTD 6.433 5,1 6.029 2,9 - 0.404 - 6,3
(Nguån sè liÖu lÊy tõ b¸o c¸o kÕt qu¶ thùc hiÖn nhiÖm vô kinh doanh n¨m
2008-2009)
B¶ng 3: KÕt qu¶ huy ®éng vèn t¹i NHNo&PTNT HuyÖn Méc Ch©u
(Nguån vèn ph©n theo lo¹i tiÒn tÖ)
§¬n vÞ: TriÖu ®ång
N¨m 2008 N¨m 2009 So s¸nh
Tû lÖ %
chØ tiªu Tû träng Tû träng T¨ng(+)
Sè tiÒn Sè tiÒn T¨ng
(%) (%) Gi¶m(-)
Gi¶m
Tæng nguån vèn
126.737 100 207.693 100 +80.956 +63,88
huy ®éng
1. Néi tÖ 121.355 95,75 204.460 98,7 +83.105 +68,48
2. Ngo¹i tÖ 5.382 4,25 2.764 1,3 - 2.618 - 48,64
(Nguån sè liÖu lÊy tõ b¸o c¸o kÕt qu¶ thùc hiÖn nhiÖm vô kinh doanh n¨m
2008-2009)
Huy động vốn là một trong những công tác không thể thiếu trong sự tồn tại và
phát triển của mọi ngành nghề trên mọi lĩnh vực. Nắm vững điều ấy, ngay từ đầu Chi
nhánh luôn coi công tác huy động vốn là mục tiêu số một để mở rộng kinh doanh, do
vậy đã chủ động đa dạng hoá hình thức huy động vốn, áp dụng lãi suất linh hoạt, thực
hiện giao khoán huy động vốn cho từng cá nhân, phòng, tổ, đặc biệt chú ý phong cách
giao dịch lịch sự, chu đáo và tiện ích để thu hút KH, có chế độ khen thưởng kịp thời
cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác huy động vốn. Chi nhánh cũng
thường xuyên tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, tiếp thị, quảng bá sản phẩm
dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và đã đạt được những thành quả nhất
định.
4.2. Hoạt động cho vay
Tổng dư nợ đến ngày 31/12/2009 đạt 305.537 triệu đồng, tăng 46.618 triệu đồng so với cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng 18%, vốn thông thường là 291.446 triệu đồng đạt 100% kế hoạch.
Hình thức cho vay của Chi nhánh Huyện MộcChâu khá đa dạng và phong phú,
bao gồm: Cho vay hộ gia đình, cá nhân và hợp tác xã; Cho vay thông qua tổ, nhóm
thuộc các tổ chức xã hội; Cho vay tiêu dùng; Cho vay xuất khẩu lao động; Bảo lãnh, bảo hiểm, thế chấp, trả góp, uỷ thác cũng đang được nâng cao và phát triển.
4.3. Hoạt động thanh toán
Thực hiện quy trình thu, chi, chuyển tiền điện tử, thanh toán bù trừ, kinh doanh ngoại hối, chi trả kiều hối, trả lương qua tài khoản, bố trí phân công cán bộ (trong đó có 01 cán bộ tin học làm công tác kế toán kiêm chịu trách nhiệm quản trị hệ thống mạng, mở rộng mạng lưới thanh toán).
Từ đầu tháng 10/2008 triển khai chương trình IPCAS giai đoạn II, hoạt động thanh toán chuyển tiền điện tử, gửi một nơi rút nhiều nơi, ghi Có ngay vào tài khoản KH. Doanh số hoạt động thanh toán đến cuối năm 2008 là 2.895 tỷ đồng, tăng 844 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 41% so với năm 2007.
4.4. Hoạt động ngân quỹ
Doanh số thu tiền mặt: 2.065.895 triệu đồng, tăng 840.047 triệu đồng so với
năm 2008; Doanh số chi tiền mặt: 2.060.779 triệu đồng, tăng 834.297 triệu đồng so với
năm 2008; Số tiền trả KH khi KH nộp thừa: 149 món (tương đương 185.684 ngàn
đồng), món cao nhất là 14 triệu đồng; Thu giữ 79 tờ tiền giả, tổng mệnh giá: 11.190
ngàn đồng.
Trong năm công tác kho quỹ ở Ngân hàng cơ sở đã thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý chìa khoá kho tiền, ra vào kho tiền, chế độ giao nhận và vận chuyển tiền trên đường đi, chế độ uỷ quyền, bàn giao hệ thống kho tiền đảm bảo đủ tiêu chuẩn. Thực hiện bảo vệ 24/24h trong ngày (kể cả ngày nghỉ, ngày lễ).
4.5. Các hoạt động khác
Ngoài những hoạt động cơ bản trên, NHNo&PTNT cơ sở còn có một số hoạt động kinh doanh khác như: làm đại lý bảo hiểm, đại lý mạng Viettel.
5. Kết quả tài chính của Chi nhánh năm 2009
Tổng thu 58.630 triệu đồng (trong đó lãi dự thu 5.362 triệu đồng, thu nợ đã xử lý rủi ro 3.162 triệu đồng, thu dịch vụ 866 triệu đồng).
Tổng chi phí 52.157 triệu đồng (trong đó lãi dự chi 4.630 triệu đồng, trả lãi tiền vay 18.180 triệu đồng, trả lãi tiền gửi 12.996 triệu đồng, chi dự phòng 9.696 triệu đồng, chi mua sắm công cụ lao động 382 triệu đồng).
Quỹ thu nhập: 14.469 triệu đồng.
Bình quân lãi suất đầu vào: 0,813%
Bình quân lãi suất đầu ra: 1,256%
Chênh lệch lãi suất đạt: 0,443%
Đạt hệ số lương theo quy định.
Chương II: PHẦN THỰC TẬP NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG
A. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ chung tại Chi nhánh
I. Nghiệp vụ kế toán tại Chi nhánh
Cùng với xu hướng phát triển của đất nước NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu
cũng thực hiện đổi mới chính sách kinh doanh, chuyển từ “ giao dịch nhiều cửa ” sang
“ giao dịch một cửa ” - IPCAS - nâng cao chất lượng giao dịch và chất lượng phục vụ
KH.
Tổng quan về hệ thống IPCAS tại NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu: - Khái niệm:
IPCAS là một phần mềm tin học nhằm hiện đại hoá hệ thống thanh toán kế toán và quản lý KH.
- Các chức năng cơ bản:
+ Quản lý hoạt động của chi nhánh và quản lý trụ sở chính (mô hình cấp 2).
Ví dụ:
TRỤ SỞ CHÍNH
…
Sơn Thị xã
La 7901
7900
+ Xử lý công việc hiệu quả và năng suất cao.
Mộc
Châu
7902
Xử lý giao dịch trực tuyến: tất cả các bút toán giao dịch do giao dịch viên thực hiện đều được cập nhập tại trụ sở chính và được quản lý tập trung tại trụ sở chính.
Thiết kế mở dễ dàng và thích hợp với các hệ thống khác.
Đặc tính: Hỗ trợ trực tuyến cho GDV, quản lý theo tham số, đa ngôn ngữ, quản lý về tin nhắn, quản lý về ngày nghỉ ngày lễ, quản lý các khoản mục dồn tích, báo cáo theo lô, hạch toán tự động, quản lý kỳ hạn, giao diện với hệ thống khác…
1. Hệ thống tài khoản kế toán:
1.1. Đặc điểm của hệ thống tài khoản kế toán:
Hiện nay NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu áp dụng hệ thống TK kế toán Ngân hàng ban hành theo Quyết định số 1161/ NHNo - TCKT ngày 03/ 08/ 2004 của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT VN.
- Hệ thống TK kế toán gồm các TK trong bảng cân đối kế toán và các TK ngoài bảng cân đối kế toán, được chia thành 09 loại:
+ Các TK trong bảng cân đối kế toán gồm 08 loại (từ loại 01 - 08); + Các TK ngoài bảng cân đối kế toán gồm 09 loại (loại 09)
- Các TK được bố trí theo hệ thống số thập phân nhiều cấp từ TK cấp I đến TK cấp V, ký hiệu từ 2 - 6 chữ số:
+ TK cấp I, II, III là những TK tổng hợp do Thống đốc NHNN quản lý làm cơ sở để hạch toán và lập báo cáo gửi NHNN;
+ TK cấp V được mở trên cơ sở TK cấp II, III của NHNN phù hợp với yêu cầu hạch toán kế toán của NHNo&PTNT VN;
+ TK cấp V ký hiệu bằng 06 chữ số, 03 số đầu (từ trái sang phải) là ký hiệu TK
cấp II, số thứ 04 là số thứ tự TK cấp III trong TK cấp II, ký hiệu từ 01 - 09 (những TK
NHNN chỉ mở đến cấp II thì số thứ tự là số 0), 02 số thứ 05 và thứ 06 bắt đầu từ 01 -
99 (chữ số cuối cùng khác 0) là số thứ tự của TK cấp V (NHNo&PTNT không mở TK
cấp IV).
- Định khoản ký hiệu TK chi tiết: TK chi tiết (tiểu khoản) dùng để theo dõi phản ánh chi tiết các đối tượng hạch toán của TK tổng hợp.
- Số hiệu TK chi tiết gồm 02 phần:
+ Phần 1: Số hiệu TK tổng hợp và ký hiệu tiền tệ thực hiện theo nguyên tắc:
Đa tệ: TK tổng hợp chỉ sử dụng TK nội tệ cấp V quy định trong hệ thống TK của NHNo&PTNT VN, không phân biệt nội tệ và ngoại tệ;
TK cho vay chỉ mở TK nợ cho vay hoặc nợ khó đòi, không phân chia TK tổng hợp theo thời gian nợ quá hạn;
TK cho vay không mở theo thành phần kinh tế, tính chất nguồn vốn mà chỉ mở theo thời hạn vay vốn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn);
Các TK đa tệ cấp V về cho vay, huy động vốn, thanh toán…được lập từ TK cấp II (trường hợp NHNN chỉ mở đến cấp II) hoặc TK cấp III nội tệ của NHNN, ghi thêm vào bên phải 3 hoặc 2 chữ số bắt đầu từ 001 hoặc 01;
Khi lập bảng cân đối kế toán hàng tháng, định kỳ, năm phải thực hiện
tách nội tệ, ngoại tệ, phân chia thời gian nợ quá hạn, thành phần kinh tế, nguồn vốn
theo đúng hệ thống TK của NHNo&PTNT VN để tổng hợp cân đối toàn ngành và gửi
NHNN.
+ Phần 2: Số thứ tự tiểu khoản trong TK tổng hợp:
Nếu 01 TK tổng hợp có dưới 10 tiểu khoản, số thứ tự tiểu khoản được ký hiệu bằng 01 chữ số từ 01 - 09;Ø
Nếu 01 TK tổng hợp có dưới 100 tiểu khoản, số thứ tự tiểu khoản được ký hiệu bằng 02 chữ số từ 01 - 99;Ø
Nếu 01 TK tổng hợp có dưới 1.000 tiểu khoản, số thứ tự tiểu khoản được ký hiệu bằng 03 chữ số từ 001 - 999;Ø
Nhóm TK quan hệ với KH (tiền gửi, tiền vay) số thứ tự tiểu khoản thống nhất quy định 06 chữ số bắt đầu từ 000001;Ø
Số lượng chữ số các tiểu khoản trong cùng 01 TK tổng hợp bắt buộcØ
phải ghi thống nhất theo quy định trên ( 1, 2, 3 chữ số …) nhưng không bắt buộc phải
ghi thống nhất số lượng chữ số của các tiểu khoản giữa các TK tổng hợp khác nhau.
Số thứ tự tiểu khoản được ghi vào bên phải của số hiệu TK tổng hợp và ký hiệu tiền tệ, giữa số hiệu TK tổng hợp, ký hiệu tiền tệ và số thứ tự tiểu khoản, ghi thêm dấu chấm (.) để phân biệt. Hệ thống hạch toán theo IPCAS việc phản ánh chi tiết đối tượng hạch toán của TK tổng hợp không mở số thứ tự tiểu khoản mà theo dõi bằng mã nghiệp vụ của đối tượng hạch toán;Ø
Hệ thống TK kế toán đa tệ không tách riêng các TK hạch toán nghiệpØ
vụ nội tệ. Các nghịêp vụ liên quan đến các loại tiền tệ được theo dõi mã ngoại tệ. Hệ thống TK kế toán không được sử dụng để hạch toán thống kê, không có TK lưỡng
tính, TK chỉ thuộc tài sản Có (dư Nợ) và TK nợ (dư Có). Các nghiệp vụ kinh tế tăng
phản ánh vào sổ cái dựa trên cơ sơ liên kết giữa mã nghiệp vụ và mã tổng hợp. Mã số
KH và mã số TK khách hàng do hệ thống tự động tạo ra. Hệ thống TK kế toán đơn
giản, phản ánh đầy đủ các khoản tài sản Nợ - Có, phù hợp thông lệ quốc tế.
1.2. Kết cấu của hệ thống tài khoản kế toán:
- Hệ thống TK kế toán chia thành 6 nhóm:
+ Nhóm TK phản ánh TS Nợ: Loại 4;
+ Nhóm TK phản ánh TS Có: Loại 1, 2, 3, 5;
+ Nhóm TK phản ánh nguồn vốn: Loại 6;
+ Nhóm TK phản ánh thu nhập: Loại 7;
+ Nhóm TK phản ánh chi phí: Loại 8;
+ Nhóm TK phản ánh nghiệp vụ ngoại bảng: Loại 9.
- Các TK trong bảng cân đối kế toán được chia thành 9 loại:
+ Loại 1: Vốn khả dụng và các khoản đầu tư;
+ Loại 2: Hoạt động tín dụng;
+ Loại 3: TSCĐ và TS Có khác;
+ Loại 4: Các khoản phải trả;
+ Loại 5: Thanh toán;
+ Loại 6: Vốn chủ sở hữu;
+ Loại 7: Thu nhập;
+ Loại 8: Chi phí:
+ Loại 9: Ngoại bảng.
2. Hệ thống chứng từ, sổ sách:
2.1. Chứng từ sử dụng:
a, Đặc điểm chung của chứng từ:
Sử dụng chủ yếu là chứng từ điện tử. Chứng từ chủ yếu được lưu trữ trên máy. Quy trình luân chuyển chứng từ ngắn gọn, dễ sử dụng, tiện lợi. Giao dịch viên vừa làm kế toán vừa làm thủ quỹ và trực tiếp giao nhận chứng từ với KH.
Chữ ký trên chứng từ chủ yếu là 2 chữ ký: 01 chữ ký của thanh toán viên và 01
chữ ký của kiểm soát viên.
Chứng từ gồm có nhiều loại: Chứng từ gốc, chứng từ ghi sổ, chứng từ tiền mặt,
chứng từ chuyển khoản, giấy nộp tiền, giấy lĩnh tiền, bảng kê các loại tiền nộp, bảng
kê các loại tiền lĩnh, giấy uỷ quyền, giấy báo và các chứng từ hạch toán nội bảng.
b, Quy trình lập chứng từ:
Việc ghi chép sổ sách của kế toán phải dựa trên các chứng từ đã giao dịch hợp pháp, hợp lệ. Chứng từ phải được lập đúng mẫu và ghi đầy đủ, rõ ràng, không tẩy xoá, không ghi 2 loại mực theo các yếu tố đã quy định. Không được sử dụng chứng từ in lại hoặc dùng chứng từ của Ngân hàng khác. Các chứng từ nhiều liên phải viết lồng giấy than hoặc lập một lần trên máy vi tính.
Đối với các chứng từ viết tay không được dùng mực đỏ viết lên chứng từ và phải viết cùng màu mực trên 01 liên. Các thông tin trên chứng từ phải điền đầy đủ, chính xác, rõ ràng. Số tiền ghi trên chứng từ phải viết cả bằng chữ và bằng số, khi xuống dòng phải viết vào đầu dòng (không được bỏ cách viết ra giữa dòng), chữ cái đầu của số tiền phải viết hoa.
Trên chứng từ phải có đầy đủ họ tên, chữ ký, đóng dấu (nếu có) của các bên có liên quan. Không được ký hộ, ký thay, lồng giấy than khi ký.
Các chứng từ viết sai thanh toán viên phải huỷ và lập chứng từ mới theo đúng quy định.
Đối với séc yêu cầu KH phải lập trên mẫu in sẵn của Ngân hàng và số seri trên séc phải phù hợp với số seri của Ngân hàng (nơi mở TK) đã bán cho KH.
c, Kiểm soát chứng từ:
Đây là một khâu quan trọng trong công tác kế toán.
Sau khi lập chứng từ, kế toán viên phải kiểm tra, kiểm soát chứng từ xem các
thông tin trên chứng từ đã đầy đủ, chính xác chưa? Có hợp pháp, hợp lệ không? Nếusai thì chứng từ phải được lập lại. Nếu đúng thì thanh toán viên mới được hạch toán, thanh toán theo quy định và chương trình giao dịch mới.
2.2. Sổ sách sử dụng:
a, Sổ cái:
• Khái niệm:
Sổ cái là phần hành nghiệp vụ có chức nằn quản lý duy trì hệ thống tài khoản kế toán dùng để hạch toán trong hệ thống nói chung (bao gồm các TK hạch toán tự động và các TK hạch toán thủ công). Các báo cáo tài chính liên quan đến các nghiệp vụ của Ngân hàng, tất cả các nghiệp vụ đều được phản ánh vào sổ cái và được quản lý theo các tài khoản liên quan.
• Nhập giao dịch sổ cái:
Nhập giao dịch sổ cái là có thể hạch toán nhiều Nợ nhiều Có nhưng chỉ có thể hạch toán đơn tệ.
Ví dụ: Chi thanh toán hợp đồng xăng dầu, số tiền: 11.000.000đ trong đó
VAT đầu vào là: 1.000.000đ. KH yêu cầu chi bằng TM.
Hạch toán: Nợ TK loại 8 : 10.000.000
Nợ TK loại 3 : 1.000.000
Có TK loại 1 : 11.000.000
IPCAS: Vào G/L (Sổ cái) -> chọn G/L Entry (hạch toán vào TK hệ thống)
-> chọn loại tiền -> gõ số tiền -> chọn kiểu trả / nhận -> mã KH -> số KH -> chọn Debit / Credit (dư Nợ / dư Có).
• Huỷ nhập giao dịch sổ cái:
Khi TTV phát hiện sai sót như: sai loại tiền, số tiền trong TK, mã KH, sai nội dụng hạch toán… sẽ thực hiện bút toán huỷ giao dịch.
Vào G/L -> G/L Entry -> chọn Cancel G/L Entry -> gõ ngày giao dịch -> chọn bút toán cần huỷ -> OK. Chọn từng dòng -> Huỷ bỏ -> nhấn Chấp nhận.
• Khoá sổ hàng ngày của TTV:
Điều kiện khoá sổ:
- Việc nhập - xuất của TTV bằng xuất - nhập của TTV đối ứng.
- TK CCA (TK thanh toán bù trừ của TTV) bằng 0.
- Tồn quỹ TM của TTV phải nộp về quỹ chính theo quy định.
- Xác nhận các giao dịch đã thực hiện trong ngày của TTV
Vào G/L -> Daily Closing -> User Daily Account Close.
• Huỷ khoá sổ TTV:
Sau khi TTV đã khoá sổ nếu phát sinh thêm giao dịch thì TTV phải xử lý như
sau:
Vào G/L -> Daily Closing -> Cancel User Daily Account Close -> Tìm kiếm (tình trạng bắt buộc phải là: Close) -> chọn Reset All.
b, Nhật ký quỹ:
Trên màn hình giao dịch vào G/L (Sổ cái) -> chọn Cash (TK tiền mặt)/ Check (TK thanh toán Séc)/ CCA (TK thanh toán bù trừ của TTV) -> chọn Inquiry Cash Transaction Reprot -> chọn Loại tiền -> nhấn Tìm kiếm.
3. Phương pháp hoạch toán trên các tài khoản:
- Phương pháp sử dụng để hạch toán là phương pháp hạch toán kép Nợ - Có cho cả nghiệp vụ nội bảng và ngoại bảng: Các TK ngoại bảng cân đối kế toán luôn có số dư Có; Loại TK đối ứng có số dư Nợ; Các TK trong bảng cân đối kế toán (được chia làm 3 loại):
+ Loại TK thuộc TS Có: luôn có số dư Nợ;
+ Loại TK thuộc TS Nợ: luôn có số dư Có;
+ Loại TK thuộc TS Nợ - Có: lúc có số dư Có, lúc có số dư Nợ, lúc có cả 2 số
dư.
Khi lập bảng cân đối TK tháng, năm phải phản ánh đầy đủ và đúng tính chất số dư của các loại TK nói trên (đối với TK thuộc TS Có - TK thuộc TS Nợ) và không được bù trừ giữa 2 số dư Nợ - Có (đối với TK thuộc TS Nợ - Có).
- Phương pháp hạch toán kinh doanh ngoại tệ:
+ Hệ thống IPCAS đánh giá kết quả kinh doanh ngoại tệ (lỗ, lãi) theo từng bút
toán.
+ Đánh giá chênh lệch tỷ giá vào thời điểm cuối tháng theo tỷ giá cuối tháng do Trung ương thông báo:
Tỷ giá thực mua;Ø
Tỷ giá thực bán;Ø
Tỷ giá cơ bản.Ø
- Phương pháp hạch toán vàng: Hạch toán vàng như 1 ngoại tệ, hạch toán bằng hiện vật vàng tiêu chuẩn 99,99% và giá trị khi hạch toán tổng hợp phải quy đổi ra VND theo tỷ giá vàng thực tế mua vào tại thời điểm lập báo cáo.
- Phương pháp hạch toán các khoản mục dồn tích (có 4 khoản mục dồn tích):
+ Lãi dự thu;
+ Lãi dự chi;
+ Chi phí chờ phân bổ;
+ Doanh thu chờ phân bổ.
II. Dịch vụ tại Chi nhánh
1. Dịch vụ bảo lãnh:
NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu thực hiện nhiều hình thức bảo lãnh như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh công trình xây dung… nhưng chủ yếu là 2 hình thức: bảo lãnh bằng tài sản (Không gắn liền với QSD đất) và bảo lãnh bằng tài sản (Gắn liền với QSD đất). Trong năm 2008, NHNo cơ sở đã tiến hành bảo lãnh cho hơn 500 món với tổng số tiền trên 3.000 triệu đồng và chưa xẩy ra trường hợp rủi ro trong bảo lãnh. Đây là một dấu hiệu đáng mừng để thúc đẩy dịch vụ này ngày càng phát triển.
2. Dịch vụ tín chấp:
Tín chấp là việc tổ chức chính tri - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền theo lãi suất thương mại tại NHNo để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.
Trên địa bàn của Huyện có khá nhiều hộ gia đình nằm trong danh sách hộ nghèo khó. Các hộ không đủ điều kiện để trực tiếp đến vay vốn Ngân hàng đã được các tổ chức chính tri - xã hội tại cơ sở như: Hội nông dân VN, Mặt trận Tổ quốc VN đứng ra giúp đỡ các hộ sản xuất kinh doanh, xoá đói giảm nghèo.
3. Dịch vụ bảo hiểm:
Ngoài những dịch vụ trên NHNo&PTNT cơ sở còn làm đại lý bảo hiểm với các loại hình như: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm phi nhân thọ…và đã góp phần làm tăng khoản thu nhập mới cho Ngân hàng.
4. Dịch vụ uỷ thác:
NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu thực hiện cho vay uỷ thác của Chính phủ, của
tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước theo hợp đồng nhận uỷ thác cho vay đã ký kết
với cơ quan đại diện. Ngân hàng được hưởng phí uỷ thác và các khoản hoa lợi thoả
thuận trong hợp đồng nhận uỷ thác cho vay theo đúng quy định của Pháp luật đã ban
hành.
III. Tình hình thực hiện nghiệp vụ tín dụng tại Chi nhánh
1. Kết quả thực hiện mục tiêu cho vay
Năm 2009 kết quả thực hiện mục tiêu kinh doanh tại Ngân hàng cơ sở tiếp tục tăng thể hiện trên tổng dư nợ, so với năm 2008 tổng dư nợ tăng 46.618 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 18% và vượt chỉ tiêu đã đề ra.
Ta có bảng phân tích cơ cấu dư nợ như sau:
Bảng 4: Kết quả dư nợ tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu
(Dư nợ phân theo thời gian)
Đơn vị: Triệu đồng
NĂM 2008 NĂM 2009 SO SÁNH
Tỷ lệ
Tỷ
CHỈ TIÊU Tỷ trọng Tăng(+) %
Số tiền Số tiền trọng
(%) Giảm(-) Tăng
(%)
Giảm
Tổng dư nợ 258.919 100 305.537 100 +46.618 +18
1. Dư nợ cho vay
202.266 78,12 261.117 85,46 +58.851 +29,1
ngắn hạn
2. Dư nợ cho vay
56.653 21,88 44.420 14,54 - 12.203 - 21,5
trung, dài hạn
(Nguồn số liệu lấy từ báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh năm
2008-2009)
Bảng 5: Kết quả dư nợ tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Mộc Châu
(Dư nợ phân theo ngành kinh tế)
Đơn vị: Triệu đồng
CHỈ TIÊU
Tổng dư nợ
1. Ngành nông-lâm
nghiệp
NĂM 2008 NĂM 2009
Tỷ Tỷ
Số tiền trọng Số tiền trọng
(%) (%)
258.919 100 305.537 100
103.866 40,1 246.550 80,7
SO SÁNH
Tỷ lệ %
Tăng(+)
Tăng
Giảm(-)
Giảm
+46.618 + 18
+142.684 +137,4
Thực trạng và giải pháp khai thác phục vụ phát triển du lịch ở Sa Pa
Thực trạng và giải pháp khai thác phục vụ phát triển du lịch ở Sa Pa
Download: PDF: Tại Đây
Word: Tại đây
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, được tạo hóa ban cho khá nhiều tài nguyên, phần lớn diện tích lãnh thổ là đồi núi, có nhiều cảnh quan đẹp, những cánh rừng nhiệt đới cùng với hệ thống sông hồ tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình.
Trải dài từ Bắc vào Nam, từ địa đầu tổ quốc Hà Giang tới mũi Cà Mau có tất cả 54 dân tộc anh em sinh sống. Tuy điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế có khác nhau nhưng cùng chung cội nguồn con rồng cháu tiên.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, khi nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ, khi trình độ dân trí ngày càng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch là một trong những nhu cầu đang ngày càng tăng trong cuộc sống của con người. Đặc biệt là du lịch văn hóa, bởi loại hình du lịch này là cơ hội để trở về cội nguồn dân tộc, tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc, những tinh hoa của dân tộc.
Du lịnh huyện Sapa thuộc tỉnh Lào Cai phát triển từ đầu thế kỉ 20. Tuy du
khách tới đây chủ yếu thăm quan các thắng cảnh tự nhiên là chính, loại hình du
lịch văn hóa vẫn còn hạn chế. Mà ở đây các
dân tộc thiểu số sinh sống là chủ yếu với nền văn hóa phong phú đa dạng có nhiều nét hấp dẫn có thể đưa vào khai thác
phục vụ trong du lịch. Nơi đây có khoảng 45000 dân, trong đó người H’mông
chiếm 52% dân số. Huyện có 98 làng, thôn, bản thì có tới 61 làng người H’mông
sinh sống. Tộc người H’mông ở Sapa có nhiều nét văn hóa đặc sắc về phong tục
tập quán, văn hóa ăn mặc, văn hóa ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng. Tuy nhiên vẫn
chưa được khai thác hết tiềm năng của nó để
phát triển du lịch nâng cao mức sống cho người dân địa phương, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc nơi
đây.
khách tới đây chủ yếu thăm quan các thắng cảnh tự nhiên là chính, loại hình du
lịch văn hóa vẫn còn hạn chế. Mà ở đây các
dân tộc thiểu số sinh sống là chủ yếu với nền văn hóa phong phú đa dạng có nhiều nét hấp dẫn có thể đưa vào khai thác
phục vụ trong du lịch. Nơi đây có khoảng 45000 dân, trong đó người H’mông
chiếm 52% dân số. Huyện có 98 làng, thôn, bản thì có tới 61 làng người H’mông
sinh sống. Tộc người H’mông ở Sapa có nhiều nét văn hóa đặc sắc về phong tục
tập quán, văn hóa ăn mặc, văn hóa ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng. Tuy nhiên vẫn
chưa được khai thác hết tiềm năng của nó để
phát triển du lịch nâng cao mức sống cho người dân địa phương, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc nơi
đây.
Là người sinh ra và lớn lên nới đây, lại học ngành Văn hóa Du lịch nên em
muốn tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của tộc người H’mông để hi vọng góp phần nhỏ
bé quảng bá nền văn hóa của người H’mông nói riêng và của các dân tộc
thiểu số ở Sapa nói chung. Cũng như nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong du
muốn tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của tộc người H’mông để hi vọng góp phần nhỏ
bé quảng bá nền văn hóa của người H’mông nói riêng và của các dân tộc
thiểu số ở Sapa nói chung. Cũng như nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong du
lịch đặc biệt là du lịch văn hóa. Từ thực trạng nền văn hóa của tộc người H’mông ở
Sapa cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Khánh em đã
chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Tìm hiểu văn hóa tộc người
H’mông - Thực trạng và giải pháp khai thác phục vụ phát triển du lịch ở Sapa”.
Sapa cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Khánh em đã
chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Tìm hiểu văn hóa tộc người
H’mông - Thực trạng và giải pháp khai thác phục vụ phát triển du lịch ở Sapa”.
2.Mục đích nghiên cứu
Giới thiệu văn hóa của tộc người H’mông, tìm ra một số giải pháp nhằm bảo tồn giữ gìn khai thác nền văn hóa đó trong việc phát triển du lịch.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Hệ thống hóa một số cơ sở lí luận về văn hóa
- Thứ hai: Phân tích, nêu rõ thực trạng nền văn hóa của tộc người H’mông ở huyện Sapa
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm gìn giữ và khai thác hiệu quả những giá trị văn hóa dân tộc người H’mông để phát triển du lịch tại Sapa
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới là tìm hiểu các yếu tố văn hóa của người H’mông ở Sapa để qua đó có thể khai thác các yếu tố văn hóa đó trong việc phát triển du lịch địa phương.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được thực hiện tại huyện Sapa -
Lào Cai, đề tài nghiên cứu về văn hóa, tác động của du lịch đối với dân tộc H`mông. Khả năng và điều kiện khai thác phát triển du lịch văn hóa của tộc người H`mông trên địa bàn Sapa.
Lào Cai, đề tài nghiên cứu về văn hóa, tác động của du lịch đối với dân tộc H`mông. Khả năng và điều kiện khai thác phát triển du lịch văn hóa của tộc người H`mông trên địa bàn Sapa.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thực địa Điều tra xã hội học
Phương pháp quan sát
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung về văn hóa
Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tộc người H`mông -
Sapa - Lào Cai
Sapa - Lào Cai
Chương 3: Một số giải pháp nhằm gìn giữ và khai thác hiệu quả
những giá trị văn hóa tộc người H`mong phục vụ phát triển du lịch ở Sapa
những giá trị văn hóa tộc người H`mong phục vụ phát triển du lịch ở Sapa
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA, DU LỊCH
1.1. Những vấn đề về văn hóa
1.1.1. Định nghĩa văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa. Thuật ngữ văn hóa được mọi người trên
thế giới sử dụng rất phổ biến, nhưng để đi đến giải thích về văn hóa lại là một việc
rất phức tạp. Các dân tộc đều có những quan niệm ít nhiều gần với nhau để hiểu về
thuật ngữ văn hóa, chủ yếu là những điều được phản ánh qua nếp sống của họ.
thế giới sử dụng rất phổ biến, nhưng để đi đến giải thích về văn hóa lại là một việc
rất phức tạp. Các dân tộc đều có những quan niệm ít nhiều gần với nhau để hiểu về
thuật ngữ văn hóa, chủ yếu là những điều được phản ánh qua nếp sống của họ.
Văn hóa (Cutulre) ngay từ nguồn gốc đã mang ý nghĩa khai phá, là cái đẹp
mang tính giáo hóa con người, là hình thức tổ chức xã hội, là giá trị vật chất lẫn
tinh thần do con người từng xã hội cụ thể tạo ra để chỉ trình độ phát triển về vật
chất lẫn tinh thần nhằm phục vụ cho cuộc sống của họ. Tổ chức văn hóa- khoa
học- giáo dục liên hiệp quốc ( UNESCO) vào năm 1994 đã đề cập về văn hóa như
sau: “ Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ, xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng… Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn
hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc
phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể
hiện, ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra
để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không mệt mỏi những ý nghĩa
mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên trên bản thân, những
vấn đề về văn hóa”.
mang tính giáo hóa con người, là hình thức tổ chức xã hội, là giá trị vật chất lẫn
tinh thần do con người từng xã hội cụ thể tạo ra để chỉ trình độ phát triển về vật
chất lẫn tinh thần nhằm phục vụ cho cuộc sống của họ. Tổ chức văn hóa- khoa
học- giáo dục liên hiệp quốc ( UNESCO) vào năm 1994 đã đề cập về văn hóa như
sau: “ Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ, xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng… Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn
hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc
phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể
hiện, ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra
để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không mệt mỏi những ý nghĩa
mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên trên bản thân, những
vấn đề về văn hóa”.
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, trình độ văn hóa, lối sống, nếp sống văn hóa. Theo nghĩa chuyên biệt văn hóa chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Chính với cách hiểu rộng này, văn hóa mới là đối tượng đích thực của văn hóa học.
Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt giúp dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng như không thể vượt qua được để không ngừng phát triển và lớn mạnh” (Phạm Văn Đồng).
Trong cuốn cơ sở văn hóa Việt Nam, PGS-TS Trần Ngọc Thêm cho rằng “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
Theo Edouard Herriot thì “ Văn hóa là cái gì còn lại khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”
Ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.
1.1.2. Những đặc trưng của văn hóa
Văn hóa phải có tính hệ thống
Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của văn hóa xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng tính ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội - có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa).
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là văn hóa có tính giá trị.
Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước đo mọi mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan- phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo với các giá trị tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần.
Do mang tính chất nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người
với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với
nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với
nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
Văn hóa còn có tính lịch sử
Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích
lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát
triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo nên văn hóa một bề dày, một chiều sâu;
nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại
các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn
lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát
triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo nên văn hóa một bề dày, một chiều sâu;
nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại
các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn
hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng
người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…
1.2. Khái quát chung về du lịch
1.2.1. Định nghĩa du lịch
Theo LHQ các tổ chức lữ hành chính thức: Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cơ trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
Tại hội nghị LHQ vể du lịch họp tại Rôma - Italia( 21/08 - 5/09/1963), các
chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hê,
hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú
của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ
với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hê,
hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú
của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ
với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “ Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng
loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm
cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”
loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm
cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”
Theo nhà kinh tế học người Aó Jozep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: Khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển từ một vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Nhìn từ góc độ kinh tế: du lịch là một nghành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Theo luật du lịch Việt Nam: du lịch là hoạt động di chuyển của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thực hiện các nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi nghiên cứu trong một khoảng thời gian nhất định.
1.2.2. Ý nghĩa của hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Hoạt động
du lịch góp phần vào tái sản xuất sức lao động, giúp phục hồi sức khỏe cho con
người. Nền sản xuất xã hội loài người ngày càng phát triển và hiện đại, đòi hỏi
cường độ lao động, nhịp điệu sinh hoạt
của con người ngày càng khẩn trương, căng thẳng. Thêm vào đó là môi trường công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho ô nhiễm
không khí tiếng ồn gia tăng. Vì vậy hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu giải trí,
chữa bệnh và nghỉ ngơi, tăng cường sức khỏe, nâng cao tuổi thọ cho con người.
du lịch góp phần vào tái sản xuất sức lao động, giúp phục hồi sức khỏe cho con
người. Nền sản xuất xã hội loài người ngày càng phát triển và hiện đại, đòi hỏi
cường độ lao động, nhịp điệu sinh hoạt
của con người ngày càng khẩn trương, căng thẳng. Thêm vào đó là môi trường công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho ô nhiễm
không khí tiếng ồn gia tăng. Vì vậy hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu giải trí,
chữa bệnh và nghỉ ngơi, tăng cường sức khỏe, nâng cao tuổi thọ cho con người.
Hoạt động du lịch là hoạt động nhằm nâng cao và làm phong phú hóa kiến thức của loài người và cũng là một hình thức học tập đặc biệt thông qua việc du lịch du khách sẽ thu thập nhiều kiến thức bổ ích, hoạt động du lich là hoạt động rèn luyện đạo đức tinh thần cho con người. Hoạt động du lịch làm tăng thêm lòng yêu quê hương đất nước, yêu đời, yêu cuộc sống.
1.2.3. Du lịch văn hóa
Ta có thể hiểu “ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà ở đó con người được hưởng thụ những sản phẩm văn hóa của nhân loại, của một quốc gia, một vùng hay của một dân tộc”.
Người ta gọi “Du lịch văn hóa” khi hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn. Hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, ngược lại với du lịch tự nhiên diễn ra nhằm thỏa mẵn nhu cầu về với thiên nhiên của con người.
Du lịch văn hóa được thể hiện thông qua việc tham quan di tích lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội cũng như truyền thống của một địa phương, khu vực, các hoạt động du lịch văn hóa góp phần không nhỏ vào việc giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc của mọi thế hệ.
Các đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn, nếu
như tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn khách du lịch bởi sự hoang sơ, độc đáo và
hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú,
đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó. Các đối tượng văn hóa của tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở tạo nên loại hình du lich văn hóa phong phú.
như tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn khách du lịch bởi sự hoang sơ, độc đáo và
hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú,
đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó. Các đối tượng văn hóa của tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở tạo nên loại hình du lich văn hóa phong phú.
Du lịch văn hóa chỉ thực sự có nội dung văn hóa khi gắn liền hoạt động của
nó với kiến thức lịch sử xã hội liên quan đến tuyến điểm du lịch. Những di tích lịch
sử văn hóa, lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, nghệ thuật ẩm thực ở địa
phương…. Đó là bằng chứng xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước,
mỗi địa phương ở đó chứa đựng những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa
và tâm hồn của một dân tộc. Nói như vậy không có nghĩa tất cả các giá trị văn hóa
đều là sản phẩm du lịch văn hóa mà phải có sự chọn lọc, có điều kiện khai thác nó.
Đồng thời việc khai thác phải gắn liền với việc bảo tồn, tôn tạo theo định
hướng phát triển bền vững.
nó với kiến thức lịch sử xã hội liên quan đến tuyến điểm du lịch. Những di tích lịch
sử văn hóa, lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, nghệ thuật ẩm thực ở địa
phương…. Đó là bằng chứng xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước,
mỗi địa phương ở đó chứa đựng những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa
và tâm hồn của một dân tộc. Nói như vậy không có nghĩa tất cả các giá trị văn hóa
đều là sản phẩm du lịch văn hóa mà phải có sự chọn lọc, có điều kiện khai thác nó.
Đồng thời việc khai thác phải gắn liền với việc bảo tồn, tôn tạo theo định
hướng phát triển bền vững.
1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Thực ra việc tách văn hóa để phân tích mối quan hệ giữa nó và du lịch là một việc làm cần thiết song khó mà đề cập được đầy đủ. Văn hóa là một khái niệm rộng hầu như không có ranh giới rõ rệt giữa văn hóa và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Văn hóa thể hiện ở tác phong, thái đội tiếp xúc của một cá thể hay một cộng đồng khi tiếp xúc với môi trường xung quanh, như với các cá thể, cộng đồng khác, với thiên nhiên, với đồ đạc, với công việc…
1.3.1. Tác động của văn hóa đến du lịch
Các đối tượng văn hóa - tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú. Mặt khác nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách. Như vậy xét dưới góc độ thị trường thì văn hóa vừa là yếu tố cung vừa góp phần hình thành yếu tố cầu của hệ thống du lịch. Trong chừng mực nào đó, có thể xét mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa thông qua một số phương tiện và sản phẩm văn hóa cụ thể.
Các sản phẩm văn hóa như tranh vẽ, điêu khắc, tượng nặn….tạo nên một
động lực thúc đẩy quan trọng của du lịch. Tranh Đông hồ, tranh lụa… là những
loại hình nghệ thuật mà du khách rất
ưa thích. Khi đi Huế về hầu như ai cũng mua cho mình một chiếc nón bài thơ. Người đi nghỉ biển thường tìm mua một số tác phẩm nghệ thuật được làm bằng các chất liệu có từ biển hoặc mô phỏng cuộc sống vùng biển.
động lực thúc đẩy quan trọng của du lịch. Tranh Đông hồ, tranh lụa… là những
loại hình nghệ thuật mà du khách rất
ưa thích. Khi đi Huế về hầu như ai cũng mua cho mình một chiếc nón bài thơ. Người đi nghỉ biển thường tìm mua một số tác phẩm nghệ thuật được làm bằng các chất liệu có từ biển hoặc mô phỏng cuộc sống vùng biển.
Để làm vui lòng du khách người ta làm để bán hoặc tặng kỷ niệm những hàng thủ công hay sản phẩm của những nước, khu vực du khách đến thăm. Các đồ vật được mua ở các làng nghề truyền thống trở thành các vật lưu niệm giá trị hơn nhiều so với các hàng cùng loại bán ở các siêu thị.
Trình diễn dân ca và các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống cũng như hiện đại cũng là một biểu hiện của văn hóa. Thực tế ở một số nước âm nhạc là nguồn chủ yếu để mua vui và làm hài lòng du khách trong các cơ sở lưu trú. Hòa nhạc, diễu hành và các lễ hội được du khách rất hoan nghênh. Các băng hình, băng nhạc mà khách có thể mua được là phương tiện rất hiệu quả nhằm duy trì, gìn giữu nền văn hóa của một địa phương.
Điệu nhảy dân tộc tạo nên một sức hút hết sức lôi cuốn, sôi động và mạnh mẽ của một nền văn hóa đối với du khách. Các hình thức và chương trình tiến hành đầy màu sắc, trang phục cổ truyền dân tộc, âm nhạc, điệu nhảy và trình độ nghệ thuật đã tăng thêm sức cuốn hút. Hầu hết các dân tộc đều có điệu nhảy của mình, các buổi biểu diễn khu vực và các chương trình công cộng khác cũng tạo nên nhiều cơ hội mới để duy trì và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.
Nền nông nghiệp của một khu vực có thể là mối quan tâm của du khách. Mô hình du lịch nông thôn làm cho du khách hòa mình vào cuộc sống của người nông dân vừa giúp cho du khách hiểu thêm về bản chất của nền văn hóa, vừa góp phần giúp những người nông dân mở mang nhận thức một cách trực tiếp.
Các thành tựu khoa học của một vùng hay một nước mặc dù có sức cuốn hút
hạn chế hơn so với các khía cạnh văn hóa khác nhưng vẫn tạo thành một yếu tố
quan trọng trong việc thúc đẩy du lịch. Sách, báo, tạp chí, các tác phẩm văn học….
là những biểu hiện quan trọng của nền văn hóa của một nước. Du khách có thể đọc
sách lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và lối sống cổ truyền của nơi đến thăm. Những
chương trình giải trí cho du khách bằng việc tổ chức các buổi đọc thơ hay thảo
luận về các cuốn sách hay các tác phẩm văn học tại các thư viện trung tâm văn
hóa… là những cơ hội để làm phong phú hiểu biết văn hóa đối với du khách.
hạn chế hơn so với các khía cạnh văn hóa khác nhưng vẫn tạo thành một yếu tố
quan trọng trong việc thúc đẩy du lịch. Sách, báo, tạp chí, các tác phẩm văn học….
là những biểu hiện quan trọng của nền văn hóa của một nước. Du khách có thể đọc
sách lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và lối sống cổ truyền của nơi đến thăm. Những
chương trình giải trí cho du khách bằng việc tổ chức các buổi đọc thơ hay thảo
luận về các cuốn sách hay các tác phẩm văn học tại các thư viện trung tâm văn
hóa… là những cơ hội để làm phong phú hiểu biết văn hóa đối với du khách.
Việc quan tâm đến ngôn ngữ của một dân tộc hay một quốc gia khác là một động lực thúc đẩy phát triển du lịch. Nước Pháp không chỉ thu hút du khách bởi cảnh đẹp thiên nhiên, bãi biển chan hòa ánh nắng, các công trình kiến trúc đẹp mà còn bởi các tác phẩm kiệt xuất, bởi tiếng Pháp. Người làm khoa học thường có nhu cầu biết hoặc ít nhất là nghiên cứu một hoặc hai ngoại ngữ. Như vậy tiếp xúc trực tiếp với môi trường ngoại ngữ như tiếp xúc trực tiếp với một nền văn hóa là một nhu cầu thúc đẩy con người đi du lịch.
Tôn giáo cũng có thể để lại nhiều dấu ấn đến văn hóa giao tiếp. Những người theo đạo sẽ tìm thấy sự yên tâm khi đến du lịch tại đất nước có tôn giáo của họ, họ cũng nhận được sự đồng cảm của người dân địa phương có cùng tôn giáo . Ngược lại sự hiềm khích, tranh chấp tôn giáo là một vật cản khó có thể vượt qua trong việc tổ chức hoạt động du lịch.
1.3.2. Tác động của du lịch đến văn hóa
Tác động tích cực
Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng,
quá trình giao tiếp này là môi trường tạo nên nền văn hóa phong phú đa dạng.
Dưới góc độ kinh tế du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu
của nhiều quốc gia đang phát triển hiện
nay. Còn dưới góc độ văn hóa du lịch làm hồi sinh những giá trị văn hóa tưởng đã biến mất. Một số phong tục tập quán và
các hoạt động văn hóa dân gian được phục hồi, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ do
sự mở rộng nhu cầu của khách du lịch được hồi sinh trở lại, các di tích kiến trúc
lịch sử bị hỏng không được chăm sóc bảo tồn nhờ có du lịch mà được phục hồi,
Các giá trị văn hóa lịch sử này đã lấy lại được sự sống nhờ vào hoạt động du lịch.
Những chuyến du lịch tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, các
bản làng có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc.
Khi tiếp xúc trực tiếp với các thành tựu văn hóa của dân tộc, được sự giải thích của
hướng dẫn viên du khách sẽ cảm nhận được giá trị to lớn của các di tích mà ngày
thường họ không để ý tới.
quá trình giao tiếp này là môi trường tạo nên nền văn hóa phong phú đa dạng.
Dưới góc độ kinh tế du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu
của nhiều quốc gia đang phát triển hiện
nay. Còn dưới góc độ văn hóa du lịch làm hồi sinh những giá trị văn hóa tưởng đã biến mất. Một số phong tục tập quán và
các hoạt động văn hóa dân gian được phục hồi, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ do
sự mở rộng nhu cầu của khách du lịch được hồi sinh trở lại, các di tích kiến trúc
lịch sử bị hỏng không được chăm sóc bảo tồn nhờ có du lịch mà được phục hồi,
Các giá trị văn hóa lịch sử này đã lấy lại được sự sống nhờ vào hoạt động du lịch.
Những chuyến du lịch tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, các
bản làng có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc.
Khi tiếp xúc trực tiếp với các thành tựu văn hóa của dân tộc, được sự giải thích của
hướng dẫn viên du khách sẽ cảm nhận được giá trị to lớn của các di tích mà ngày
thường họ không để ý tới.
Du lịch chính là điều kiện mở rộng mối quan hệ hợp tác, giao lưu. Du lịch
có thể giúp cho du khách gặp gỡ mọi người từ khắp nơi trên thế giới, học hỏi từ
những nền văn hóa khác. Thông qua hoạt động du lịch du khách có thể biết được những tập tục truyền thống của các quốc gia, vùng miền khác nhau. Một trong những nét văn hóa đặc sắc riêng biệt của mỗi quốc gia đó là cách chào hỏi.
Du lịch tạo cơ hội cho du khách có nhiều thời gian dành cho người thân, thắt
chặt tình cảm giữa những thành viên trong gia đình. Khi đi du lịch mọi người có
điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn. Những đức tính tốt như hay giúp đỡ,
chân thành…mới có dịp được thể hện rõ nét. Du lịch là điều kiện để mọi người
xích lại gần nhau hơn. Như vậy qua du lịch mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm
tình đoàn kết cộng đồng. Cũng chính nhờ có du lịch cuộc sống cộng đồng trở nên
sôi động hơn, các nền văn hóa có điều kiện hòa nhập với nhau làm cho đời sống
văn minh tinh thần của con người trở nên phong phú hơn. Thông qua các hoạt
động tổ chức sự kiện như: giao lưu về ẩm thực, nghệ thuật, tổ chức các lễ hội… đã
tạo điều kiện để các quốc gia có cơ hội giao lưu với nhau. Chẳng hạn trong “ liên
hoan các món ngon năm 2008” được tổ chức tại khu du lịch Văn Thánh - tp. HCM,
du khách đã được thưởng thức những món ngon của nhiều quốc gia. Đặc biệt Việt
Nam đã có điều kiện giới thiệu món ngon của mình với bạn bè quốc tế. Vì vậy
hoạt động du lịch góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và tu dưỡng đạo
đức cho con người.
chặt tình cảm giữa những thành viên trong gia đình. Khi đi du lịch mọi người có
điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn. Những đức tính tốt như hay giúp đỡ,
chân thành…mới có dịp được thể hện rõ nét. Du lịch là điều kiện để mọi người
xích lại gần nhau hơn. Như vậy qua du lịch mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm
tình đoàn kết cộng đồng. Cũng chính nhờ có du lịch cuộc sống cộng đồng trở nên
sôi động hơn, các nền văn hóa có điều kiện hòa nhập với nhau làm cho đời sống
văn minh tinh thần của con người trở nên phong phú hơn. Thông qua các hoạt
động tổ chức sự kiện như: giao lưu về ẩm thực, nghệ thuật, tổ chức các lễ hội… đã
tạo điều kiện để các quốc gia có cơ hội giao lưu với nhau. Chẳng hạn trong “ liên
hoan các món ngon năm 2008” được tổ chức tại khu du lịch Văn Thánh - tp. HCM,
du khách đã được thưởng thức những món ngon của nhiều quốc gia. Đặc biệt Việt
Nam đã có điều kiện giới thiệu món ngon của mình với bạn bè quốc tế. Vì vậy
hoạt động du lịch góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và tu dưỡng đạo
đức cho con người.
Du lịch góp phần quảng bá giới thiệu hình ảnh, giá trị truyền thống văn hóa ra thế giới bên ngoài, là sợi dây vô hình gắn kết các giá trị văn hóa của các nền văn hóa với nhau.
Tác động tiêu cực
Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hóa giữa các cộng động.
Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa
của địa phương. Song nhiều khi sự thâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm
dụng biến thành xâm hại. Ai đến Sapa cũng muốn được đi chợ tình song chợ tình
Sapa một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc đang bị nhưng
du khách tò mò ít văn hóa xâm hại bằng những cử chỉ thô bạo như rọi đèn vào cặp
tình nhân, lật nón các thanh nữ để trêu ghẹo, xem mặt.. Mặt khác để thỏa mẵn nhu
Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa
của địa phương. Song nhiều khi sự thâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm
dụng biến thành xâm hại. Ai đến Sapa cũng muốn được đi chợ tình song chợ tình
Sapa một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc đang bị nhưng
du khách tò mò ít văn hóa xâm hại bằng những cử chỉ thô bạo như rọi đèn vào cặp
tình nhân, lật nón các thanh nữ để trêu ghẹo, xem mặt.. Mặt khác để thỏa mẵn nhu
cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên các hoạt động văn hóa
truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Nhiều nhà cung ứng du lịch đã thuyết phục được dân địa phương thường xuyên trình diễn lại các phong tục, lễ hội cho khách xem. Nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết về nguồn gốc của các hành vi lễ hội, người ta giải thích một cách sai lệch hoặc thậm chí bậy bạ. Như vậy những gía trị văn hóa đích thực của một cộng đồng đáng lý phải được trân trọng lại bị đem ra làm trò tiêu khiển, mua vui cho du khách. Gía trị truyền thống dần bị lu mờ do sự lạm dụng vì mục đích kinh tế.
Do chạy theo số lượng không ít mặt hàng truyền thống được chế tác lại để làm hàng lưu niệm cho du khách sản xuất cẩu thả đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, làm sai lệch của một nền văn hóa bản địa.
Du lịch làm cho các tệ nạn mại dâm, cờ bạc gia tăng. Nạn mại dâm, nghiện hút,
trộm cướp không phải do du lịch đẻ ra, trước khi du lịch phát triển nó đã tồn tại với
những mức độ khác nhau nhưng không ai phủ nhận rằng du lịch làm cho tệ nạn
mại dâm gia tăng đáng kể. Một trong những xu hướng ở các nước nghèo đón khách
ở những nước giàu là người dân bản xư,
nhất là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống thay đổi cách sống theo mốt du khách . Có hai yếu tố được coi là nguyên
nhân chính của hoạt động này. Một là trong hoạt động kinh doanh người dân bản
xứ dùng chuẩn của du khách để làm vừa lòng họ nhằm thu hút tối đa lợi nhuận cho
mình. Thứ hai là tư tưởng vọng ngoại,
người dân bản xứ đánh gia cao lối sống của du khách, cho đây là biểu hiện của văn minh giàu có dẫn đến những biến đổi tiêu
cực về tư tưởng và hành vi ảnh hưởng
cuả hoạt động du lịch đến văn hóa và xã hội còn được thể hiện qua quan hệ giữa du khách và người dân địa phương. Nhìn
chung theo thời gian, thái độ của dân sở tại đối với du khách từ tích cực sang tiêu
cực. Vào gia đoạn đầu khi những du khách đầu tiên xuất hiện người dân địa
phương tỏ ra vô cùng hào hứng, đón tiếp vô cùng nồng nhiệt song theo thời gian
tình cảm nồng hậu mà du khách đón chờ giảm dần. Quan hệ tình cảm giữa du
khách và dân địa phương ngày càng trở nên nguội lạnh và thay vào quan hệ tình
cảm đó là quan hệ buôn bán . Đại đa số du khách được đón tiếp với nghi lễ xã giao.
trộm cướp không phải do du lịch đẻ ra, trước khi du lịch phát triển nó đã tồn tại với
những mức độ khác nhau nhưng không ai phủ nhận rằng du lịch làm cho tệ nạn
mại dâm gia tăng đáng kể. Một trong những xu hướng ở các nước nghèo đón khách
ở những nước giàu là người dân bản xư,
nhất là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống thay đổi cách sống theo mốt du khách . Có hai yếu tố được coi là nguyên
nhân chính của hoạt động này. Một là trong hoạt động kinh doanh người dân bản
xứ dùng chuẩn của du khách để làm vừa lòng họ nhằm thu hút tối đa lợi nhuận cho
mình. Thứ hai là tư tưởng vọng ngoại,
người dân bản xứ đánh gia cao lối sống của du khách, cho đây là biểu hiện của văn minh giàu có dẫn đến những biến đổi tiêu
cực về tư tưởng và hành vi ảnh hưởng
cuả hoạt động du lịch đến văn hóa và xã hội còn được thể hiện qua quan hệ giữa du khách và người dân địa phương. Nhìn
chung theo thời gian, thái độ của dân sở tại đối với du khách từ tích cực sang tiêu
cực. Vào gia đoạn đầu khi những du khách đầu tiên xuất hiện người dân địa
phương tỏ ra vô cùng hào hứng, đón tiếp vô cùng nồng nhiệt song theo thời gian
tình cảm nồng hậu mà du khách đón chờ giảm dần. Quan hệ tình cảm giữa du
khách và dân địa phương ngày càng trở nên nguội lạnh và thay vào quan hệ tình
cảm đó là quan hệ buôn bán . Đại đa số du khách được đón tiếp với nghi lễ xã giao.
Mỗi nền văn hóa đều có một số sự kiện lịch sử, lễ hội, tôn giáo riêng. Khi sự kiện được thay đổi để đáp ứng cho nhu cầu của du khách ý nghĩa của nó cũng mất đi. Ban tổ chức ở một số lễ hội đã quên cả nhiệm vụ làm lễ hội dành cho người ở địa phương mình là chính, để cùng nhau tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cùng nhau thưởng hức những nét đẹp tinh hoa trong văn hóa truyền thống của địa phương mình như những thứ đáng nhẽ phải rất văn hóa như hát quan họ ở Bắc Ninh kèm theo tiết mục xin tiền rất phản cảm nhiều lúc khách bỏ tiền vào cơi trầu có nhiều liền anh liền chị quên cả hát để cảm ơn.
Vì tương lai phát triển du lịch lâu bền, ngành du lịch nói chung, người làm du lịch nói riêng phải tự đặt cho mình trách nhiệm góp phần thúc đẩy những quan hệ, tình cảm tốt đẹp sẵn có, ngăn chặn đẩy lùi những thái độ tiêu cực có thể nảy sinh đối với du khách.
Bảng: mối quan hệ biến động giữa các loại thái độ cư xử với du khách của dân cư địa phương
T Chủ động Thụ động
hái độ
T ủng hộ mạnh mẽ Chấp
ích cực hoạt động du lịch và du nhạn hoạt động
khách du lịch và sự có
mặt của du
khách
x
T Chống đối kịch Lặng lẽ
iêu cực liệt hoạt động du lịch chống đối
và tỏ thái độ thù nghịch với du khách
1.4. Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch Việt Nam bền vững trên lĩnh
vực văn hóa - xã hội
vực văn hóa - xã hội
Du lịch đã tác động mạnh mẽ đến văn hóa xã hội vì vậy muốn phát huy các ảnh hưởng tích cực giảm thiểu các tác động tiêu cực cần định hướng xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững ở nước ta. Định nghĩa về phát triển du lịch bền vững đã được hội đồng du lịch lữ hành quốc tế( WTTC) đưa ra năm 1996: “ Du lịch bền vững là việc đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai . Từ định nghĩa của hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế đưa ra năm 1996 đến nay vấn đề phát triển du lịch bền vững đã đè ra 3 yêu cầu cơ bản:
- Bảo đảm những hoạt động kinh tế sôi động lâu dài , đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và phân phối công bằng hợp lý cho mọi thành viên, cho cả những cộng đồng nơi khách tới du lịch.
- Tôn trọng tính đa dạng văn hóa, tôn trọng bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương
- Sử dụng tài nguyên môi trường tối ưu nhằm phát triển du lịch , bảo tồn tài nguển thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Để phát triển du lịch Việt Nam bền vững cần tìm những giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực cũng như cần tìm các biện pháp phát huy những tác động tích cực, góp phần phát triển du lịch nhưng vẫn giữ được nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Một số biện pháp để phát huy những tác động tích cực của du lịch đến văn hóa:
- Cần có chính sách khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn để đảm bảo phát triển du lịch bền vững
- Đánh giá toàn diện của tiềm năng của tài nguyên và môi trường du lịch. Đặc biệt là các khu trọng điểm phát triển du lịch văn hóa, các vùng sâu vùng xa ta cần xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường du lịch. Cần thường xuyên theo dõi những biến động để có những giải pháp kịp thời khắc phục sự cố
- Lồng ghép đào tạo, giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn cho khách du lịch, cộng đồng dân cư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
- Hình thành một số sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc đặc trưng mang sắc thái riêng của Việt Nam có sức cạnh tranh với các sản phẩm của các quốc gia khác.
Các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến văn
hóa
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tác động tiêu cực của du lịch đến văn hóa là trong chỉ đạo quản lý và sử dụng các tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên du lịch nhân văn mới chỉ chú ý tới lợi ích trước mắt mà chưa quan tâm đến việc bảo vệ và tôn tạo. Mặt khác do chưa làm tốt việc giáo dục du lịch toàn dân nên không phải ai cũng hiểu được vị trí vai trò của du lịch. Đồng thời ý thức và thái độ của những cán bộ trong ngành cũng gây ảnh hưởng xấu đến văn hóa. Do đó cần cải tiến hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý tổ chức du lịch từ trung ương đến địa phương.
Một khi xã hội hóa càng rộng và sâu, xu thế toàn cầu hóa du lịch thì phải
từng bước hoàn thiện thể chế du lịch đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng tăng
cường vai trò của nhà nước và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào
việc tổ chức hoạt động du lịch đúng hướng hoạch định của quốc gia
Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về du lịch triển khai các
pháp lệnh du lịch, xây dựng các văn bản pháp quy liên quan tạo cơ sơ pháp lý đồng bộ cho quản
lý du lịch.
từng bước hoàn thiện thể chế du lịch đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng tăng
cường vai trò của nhà nước và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào
việc tổ chức hoạt động du lịch đúng hướng hoạch định của quốc gia
Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về du lịch triển khai các
pháp lệnh du lịch, xây dựng các văn bản pháp quy liên quan tạo cơ sơ pháp lý đồng bộ cho quản
lý du lịch.
Tổ chức bộ máy kiểm soát du lịch, nghiêm khắc tuân thủ chấp hành các quy
định và chính sách của nhà nước của tổng cục du lịch, xử phạt nghiêm minh những
tổ chức và cá nhân gây ra những hậu qủa nghiêm trọng cho nền kinh tế văn
hóa của quốc gia.
định và chính sách của nhà nước của tổng cục du lịch, xử phạt nghiêm minh những
tổ chức và cá nhân gây ra những hậu qủa nghiêm trọng cho nền kinh tế văn
hóa của quốc gia.
Tuyên truyền giáo dục đối với du khách, ý thức về tôn trọng bảo về bản sắc văn hóa, môi trường tự nhiên ở những nơi họ đến du lịch. Đồng thời giáo dục đội ngũ nhân viên du lịch về đạo đức nghề nghiệp.
Tiến hành giáo dục đối với dân cư địa phương để họ hiểu được ý nghĩa và
vai trò quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế và xã hội ở địa
phương mình, nâng cao tố chất tư tưởng và phẩm chất văn hóa, tăng cường phân
biệt được đúng sai, đẹp xấu, lợi ích lâu dài chống những hành vi văn hóa lai căng.
vai trò quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế và xã hội ở địa
phương mình, nâng cao tố chất tư tưởng và phẩm chất văn hóa, tăng cường phân
biệt được đúng sai, đẹp xấu, lợi ích lâu dài chống những hành vi văn hóa lai căng.
Tiểu Kết Chương 1
Ngày nay, du lịch được xem là ngành kinh tế không khói quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Du lịch trở nên phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu của con người khi đời sống tinh thần của họ ngày càng phong phú.
Văn hóa là cội nguồn, là tương lai của dân tộc, nó xác định chỗ đứng của một quốc gia dân tộc trên thị trường thế giới. Chính vì thế, muốn được thế giới biết đến mình thì một quốc gia cần phải xây dựng cho mình một nền văn hóa tiêu biểu, đậm đà bản sắc dân tộc. Hoạt động du lịch chính là một trong những phương tiện để thực hiện mục đích đó.
Chương 1 là những cơ sở lí luận, những tìm hiểu chung về văn hóa, du lịch
và du lịch văn hóa. Trong đó đã tìm hiểu về các khái niệm văn hóa, đặc trưng của
văn hóa, khái niệm về du lịch, du lịch văn hóa, mối quan hệ giữa du lịch và văn
hóa. Đây là phần tổng quan về lí luận để đi tới tìm hiểu những vấn đề cụ thể của đề
tài.
và du lịch văn hóa. Trong đó đã tìm hiểu về các khái niệm văn hóa, đặc trưng của
văn hóa, khái niệm về du lịch, du lịch văn hóa, mối quan hệ giữa du lịch và văn
hóa. Đây là phần tổng quan về lí luận để đi tới tìm hiểu những vấn đề cụ thể của đề
tài.
CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỘC NGƢỜI H’MÔNG HUYỆN SAPA TỈNH LÀO CAI
2.1. Khái quát chung về huyện Sapa tỉnh Lào Cai
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Sa Pa là một thị trấn vùng cao, là một khu nghỉ mát nổi tiếng thuộc
huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Nơi đây ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu của tự
nhiên, phong cảnh thiên nhiên với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng cây, tạo nên bức tranh có bố cục hài hoà, có cảnh sắc thơ mộng và hấp dẫn từ cảnh quan đất trời vùng đất phía Tây Bắc.
huyện Sapa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Nơi đây ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu của tự
nhiên, phong cảnh thiên nhiên với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng cây, tạo nên bức tranh có bố cục hài hoà, có cảnh sắc thơ mộng và hấp dẫn từ cảnh quan đất trời vùng đất phía Tây Bắc.
Lịch sử
Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định mở một cuộc điều tra về
người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao. Những đoàn điều tra đầu tiên đến Lào
Cai vào năm 1898.
người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao. Những đoàn điều tra đầu tiên đến Lào
Cai vào năm 1898.
Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ, đoàn
thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối
Tủng.
thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối
Tủng.
Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về địa lý,
khí hậu, thảm thực vật... Sapa bắt đầu được biết tới
với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm 1917,
một văn phòng du lịch được thành lập ở Pa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đương sắt Hà Nội - Lào Cai hoàn thành, Sapa được xem như thủ đô mùa hè của miền bắc. Tổng cộng người Pháp đã xây dựng ở Sapa gần 300 biệt thự.
khí hậu, thảm thực vật... Sapa bắt đầu được biết tới
với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm 1917,
một văn phòng du lịch được thành lập ở Pa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đương sắt Hà Nội - Lào Cai hoàn thành, Sapa được xem như thủ đô mùa hè của miền bắc. Tổng cộng người Pháp đã xây dựng ở Sapa gần 300 biệt thự.
Sapa bị tàn phá nhiều trong chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979. Hàng
ngàn ha rừng thông bao phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây
cũng bị phá huỷ. Vào thập niên 1990, Sapa được xây dựng, tái thiết trở lại. Nhiều
khánh sạn, biệt thự mới được xây dựng. Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới
300 vào năm 1995. Năm 2003, Sapa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500
ngàn ha rừng thông bao phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây
cũng bị phá huỷ. Vào thập niên 1990, Sapa được xây dựng, tái thiết trở lại. Nhiều
khánh sạn, biệt thự mới được xây dựng. Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới
300 vào năm 1995. Năm 2003, Sapa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500
phòng. Lượng khách du lịch tới Sapa tăng lên từ 2.000 khách vào năm 1991 đến
60.000 khách vào 2002.
Nguồn gốc tên gọi
Tên Sapa có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại. Trong tiếng Quan Thoại phát
âm là SaPả hay SaPá tức "bãi cát" do ngày trước khi có thị trấn
Sapa thì nơi đây chỉ có một bãi cát mà dân cư bản địa thường họp chợ. Ngoài ra, Sa cũng có thể là
âm là SaPả hay SaPá tức "bãi cát" do ngày trước khi có thị trấn
Sapa thì nơi đây chỉ có một bãi cát mà dân cư bản địa thường họp chợ. Ngoài ra, Sa cũng có thể là
cách nói lệch đi theo phiên âm tiếng Tàu là Sha (沙) cũng có nghĩa là Cát.
Từ hai chữ "Sa Pả", người phương Tây phát âm không dấu, thành Sapa và
họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó thành "Cha Pa" và một thời gian rất dài sau đó
người ta dùng "Cha Pa" như một từ tiếng Việt. Về sau, từ này viết được thống nhất
là Sapa
Vị trí
Sapa nằm trên một mặt bằng ở độ cao 1500 đến 1650 mét ở sườn núi Lô Suây Tông. Đỉnh của núi này có thể nhìn thấy ở phía đông nam của Sapa, có độ cao 2228 mét. Từ thị trấn nhìn xuống có thung lũng Ngòi Dum ở phía đông và thung lũng Mường Hoa ở phía tây nam
Địa hình - Khí hậu
Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sapa ở độ cao 1.600 mét so
với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội.
Ngoài con đường chính từ thành phố Lào Cai, để tới Sapa còn một tuyến giao
thông khác, quốc lộ 4D nối từ xã Bình Lư, Lai Châu. Mặc dù phần lớn cư
dân huyện Sapa là những người dân tộc
thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu những người Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu những người Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
Sapa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ
quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa
xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi
chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là
quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa
xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi
chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là
(Theo Ashley Nguyen)
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)